Hiển thị các bài đăng có nhãn XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT UẨN KHÚC ĐẰNG SAU BÀI HÁT "HAPPY NEW YEAR"

 



Đằng sau bài hát "Happy New Year" được bật lên trong khoảnh khắc giao thừa là câu chuyện đau buồn và đầy suy tư mà ít ai biết

Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng của bài "Happy New Year" của ABBA đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam nhưng ít ai biết ý nghĩa đằng sau bài hát này.

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, người người nhà nhà sẽ mở bài "Happy New Year" để chào đón một năm mới đầy những hi vọng mới. Đặc biệt, trong khoảnh khắc giao thời từ năm cũ sang năm mới, tiếng hát của ban nhạc ABBA cất lên khiến trái tim mỗi người đều rung động và bồi hồi. Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng này đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam.

Happy New Year là một trong những ca khúc bất hủ của ban nhạc ABBA. Bài hát được phát hành vào năm 1980, ngay lập tức đã trở thành hit và được phát lên vào mỗi dịp năm mới của rất nhiều nước trên thế giới. Như tiêu đề của bài hát, "Happy New Year" là một câu chúc tốt lành cho ngày đầu năm mới. Trong bài hát này, ABBA chúc mọi người một năm mới hạnh phúc và hy vọng rằng trong năm mới, thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn.

Có một điều thú vị về bài hát này, ban đầu nó được đặt tên là Daddy Don’t Get Drunk On Christmas Day (Bố ơi đừng say xỉn trong ngày Giáng sinh). Vào thời điểm đó, ban nhạc ABBA thậm chí còn không đánh giá cao về bài hát này, dù phát hành vào năm 1980 nhưng phải mãi đến năm 1999 mới phát hành đĩa đơn.

Đối với người Việt Nam, bài hát này vang lên có nghĩa là Tết đến, xuân về. Từ già trẻ, lớn bé, vào đêm Giao thừa đều sẽ ra rả hát theo. Nhưng có lẽ chẳng mấy ai hiểu được hết toàn bộ ý nghĩa của bài hát.

Hóa ra, bài hát này lại mang nhiều ý nghĩa đau buồn và sâu lắng mà không phải ai cũng hiểu.

Hãy cùng nhìn lại bối cảnh thế giới vào năm 1980 khi bài hát ra đời.

Ban nhạc ABBA gồm có 4 thành viên và cũng chính là 2 cặp vợ chồng: Björn Ulvaeus và Agnetha Fältskog - Benny Anderson và Anni-Frid Lyngstad. Ban nhạc đã cùng nhau đi từ năm 1972 với những bản hit thành công khiến cả thế giới biết đến. Trong thời kì đỉnh cao, những bài hát của họ đã vươn ra khắp các châu lục và còn sức sống mãnh liệt cho đến tận bây giờ.

Thế nhưng, vào năm 1979, cặp đôi Bjorn và Agnetha tuyên bố ly hôn, là dấu hiệu đầu tiên cho sự tan rã của nhóm nhạc vào năm 1982.

"Rượu sâm-panh đã cạn và pháo hoa đã tàn

Chỉ còn tôi và bạn ở nơi đây cùng với những niềm đau và sự mất mát

Tiệc đã tàn và bình minh thì thật ảm đạm

Không giống như ngày hôm qua..."

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

TUẦN 49 NGÀY

HOÀNG TUẤN PHỔ
Lễ cúng cơm tính từ ngày thân nhân mới mất đến ngày thứ 49, cúng tuần “thất thất” hay “tứ cửu”. (Thất thất là 7 ngày x 7 ngày = 49 ngày; tứ cửu là “bốn chín” tức 49 ngày). Dân gian thường gọi con số 50 - tuần 50 ngày cho chẵn, và cũng tính 50 ngày để cúng cho dễ nhớ. Tất nhiên như thế là sai, dù chỉ sai một ngày, vì không đúng ý nghĩa của tuần “tứ cửu”, còn gọi là thất thất hay chung thất. Vậy, lễ cúng tuần 49 ngày có ý nghĩa gì? Chương “Sống chết - Hồn phách” của sách này đã nói rõ “hồn” và “phách” (tức hồn và vía), ở đây không nhắc lại. Sách Gia lễ xưa và nay, Phạm Côn Sơn viết: “Việc làm tuần “thất thất” (7x7) khiến cho một số người thắc mắc là, theo sách vở cổ, thì người đàn bà có tới chín vía mà mỗi lần làm “lễ kỵ” thì tan một vía. Sự việc cúng tuần “chung thất” chỉ có 7 lần như người đàn ông (có bảy vía) thì hai vía còn lại của người đàn bà giải quyết ra sao? Không thấy sách vở nào giải thích về việc dư thừa và trục trặc này!” (NXB Thanh Niên). Tân Việt giải thích Một trăm điều nên biết về Phong tục Việt Nam trong đó có điều: “Tại sao có lễ cúng cơm trong 100 ngày?”: Thờ cúng vong linh giống như khi đang sống, cũng là để thoả nguyện tâm linh, “lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”. Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày? “Cũng tuỳ địa phương, có nơi chỉ cúng hết 49 ngày (tức là lễ chung thất): Theo thuyết của Phật giáo: qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty (tức một tuần, nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch); sau 7 tuần vong hồn siêu thoát. Có nơi thờ cúng hết 100 ngày (tức lễ tốt khốc, nghĩa là thôi khóc). Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này (sau 49 đến 100 ngày) âm hồn vẫn còn phảng phất luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa”. (NXB Văn hoá dân tộc). Cách giải thích của Tân Việt tuy “kỹ hơn” so với các tác giả nói về gia lễ trước và sau ông, như Phan Kế Bính, Nhất Thanh, Phạm Côn Sơn,...nhưng vẫn nặng về “nói theo”. Chỗ nào dựa vào sách thì không đúng sách, chỗ nào không có sách để dựa thì suy đoán chủ quan. Ông vừa giải đáp thắc mắc của chúng ta lại vừa nêu lên thắc mắc để hỏi chúng ta rằng: Sự việc cúng tuần 7 x 7 = 49 là tính 7 vía đàn ông, còn đàn bà những 9 vía (7 x 9 = 63 ngày) tại sao không thấy sách vở nào giải thích về con số “dư thừa” (2 vía) này? Thuyết linh hồn phổ biến (Đạo giáo, Nho giáo, dân gian) là Tam hồn thất phách, nhà lý luận Đông y thêm “nhị phách” là thai phách và huyết phách để chữa bệnh cho phụ nữ, vì thế đàn bà mới có những “cửu phách”, tức 9 vía. Nhưng phụ nữ đến tuổi 49, 50, hết kinh nguyệt, huyết phách cũng tan; khi huyết phách tan tất không còn khả năng thụ thai thì thai phách cũng mất luôn. Rốt cuộc, đàn bà cũng chỉ có thất phách. Nếu họ chết sớm (trước tuổi 50) vẫn không thể có cửu phách, vì y học không can dự vào chuyện cúng lễ, tang ma. “Thất thất” là nghi lễ theo Đạo giáo. Sách Xuân Vũ dật hưởng của Điền Nghệ Hành: Người ta tính từ lúc mới lọt lòng, cứ 7 ngày là một lạp, phải 49 ngày mới đủ 7 lạp, thân thể mới hoàn chỉnh bảy phách (vía) để thành “tam hồn thất phách” (ba hồn bảy vía). Khi chết, người ta cũng phải 7 ngày mới tan một vía, sau 7 lần 7 ngày là 49 ngày, bảy vía (thất phách) mới tiêu hết. Lễ cúng giỗ theo Đạo giáo, tính từ ngày chết, cứ 7 ngày phải cúng một giỗ (kỵ) cho một vía (phách), sau 7 lần giỗ: 49 ngày, mới xong giỗ. Cúng 49 ngày, nói chính xác là ngày thứ 49 tính từ ngày chết là hết 7 lần giỗ vía, vì thế mới gọi là chung thất (chữ chung là hết, chữ thất là bảy). Đáng lẽ phải cúng 7 lần giỗ trong khoảng thời gian 49 ngày, dân ta do muốn giản tiện, bỏ qua 6 giỗ, chỉ cúng giỗ lần thứ 7. (Chú ý đây chỉ là giỗ vía, còn giỗ hồn mỗi năm cúng một lần vào ngày mất, và cúng cho đến hết đời thứ năm). Theo thuyết đầu thai luân hồi của Phật giáo: người ta sau khi chết, trong khoảng 49 ngày, A-lại-da-thức (tức Đệ bát thức, tức tâm, tức hồn) đầu thai chuyển kiếp (chuyển kiếp khác bằng đường đầu thai). Đạo Phật cũng không nói người ta có tam hồn thất phách, mà chủ trương con người ta có bát thức (8 thức), lục căn: nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỵ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (thân thể), ý (tim óc) đối lục trần: sắc (màu sắc), thanh (tiếng), hương (mùi), vị (mặn, ngọt, chua, cay), xúc (cảm xúc), pháp (vật chất nói chung) sinh ra lục thức (6 thức): nhãn thức (nhìn thấy màu sắc xấu đẹp), nhĩ thức (nghe thấy âm thanh thế nào), tỵ thức (ngửi thấy mùi thơm, thối...), thiệt thức (lưỡi nếm vị ngọt bùi, cay, đắng), thân thức (cảm thấy nóng, lạnh), ý thức (quan sát, phân tích nhận định các hiện tượng). Sáu thức tương tự 6 giác quan trước đối tượng vật chất bên ngoài thiên nhiên xã hội: hình sắc, thanh âm, mùi, vị, thân thể, tâm não. Học thuyết này của Phật giáo hoàn toàn duy vật. Nhưng ngoài lục thức, còn thêm Đệ thất thức (Mạt-na-thức), Đệ bát thức (A-lại-da-thức), Phật giáo lại bước qua lĩnh vực duy vật, chuyển sang thế giới duy tâm. Thuyết Bát thức xuất xứ từ học thuyết Duy thức luận được Pháp tướng tông dùng làm căn cứ lý luận cho tông phái Phật giáo của mình thực chất là một học thuyết lý luận siêu hình, định nghĩa các thuật ngữ A-lại-da-thức, Mạt-na-thức về chữ nghĩa tuy cao siêu, có thể hiểu như cái “tâm” của nhà Phật thường được nói tới. Đó là nguồn gốc của thế giới vật chất bên trong có bản ngã. Đó còn là chủ thể tinh thần của luân hồi quả báo. Đó cũng là cái nhân dân ta quen gọi, thường gọi là linh hồn đầu thai quả báo. Thuyết nhân quả báo ứng là kết quả của nguyên nhân, gây ra thiện hay ác, tất nhận được kết quả tốt, xấu, không chỉ có làm việc ác mới nhận sự báo ứng, mà làm điều thiện cũng được sự báo ứng. Do đó, mọi người dù lúc sống thiện, hay ác sau khi chết đều phải luân hồi chuyển kiếp sướng, khổ khác nhau. Dân ta cúng tuần “thất thất” là theo thuyết “tam hồn thất phách” của Đạo giáo, nhưng nghi lễ cầu cúng vào dịp lễ này (kể cả cúng 100 ngày) lại thỉnh sư về nhà lập trai đàn làm lễ cầu siêu hoặc rước vong hồn lên chùa làm lễ cầu cúng cho linh hồn được siêu thoát, lại theo thuyết “siêu sinh tịnh độ” của Phật giáo. Siêu sinh tịnh độ là gì? Là linh hồn không phải đầu thai chuyển kiếp trong vòng luân hồi lục đạo để tiếp tục chịu bốn cái khổ lớn: Sinh (sống), lão (già yếu), bệnh (bệnh tật ốm đau), tử (chết chóc). Sự cầu mong ấy liệu có thay đổi được thuyết nhân quả báo ứng của chính nhà Phật đã đề xướng và gọi đó là “luật”? Hay đây là trường hợp “lách luật” hoặc chỉ một câu nói của Phật đủ thành “luật sửa đổi”, “luật bổ sung”? Không có cơ sở chứng minh sinh thời Phật tổ Thích-ca tỏ ra có ý muốn điều chỉnh luật nhân quả báo ứng. Chỉ thấy sách Vô Lượng Thọ kinh (Vô Lượng Thọ là tên khác của Phật A Di Đà) kể chuyện Phật Thích-ca lúc ấy đang ở vườn Kỳ Viên nói với các đại đệ tử Xá-Lợi-Phất, Ca-Diếp, A-Nan-Đà rằng chúng sinh nếu chăm niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà có thể sẽ được ngài đón tiếp sang thế giới Tây phương Cực lạc do ngài làm giáo chủ. Đại ý Phật muốn đưa ra một phương pháp tu hành phù hợp với trình độ nhận thức quá thấp kém của loại chúng sinh (người) không thể hiểu được nghĩa lý sâu xa của nhà Phật và những phương thức tu hành cao siêu. Luôn luôn niệm Phật là luôn luôn hướng về đức Phật, luôn luôn hướng về đức Phật là luôn luôn nghĩ đến điều thiện, luôn luôn nghĩ đến điều thiện sẽ luôn luôn tránh được điều ác. Chúng sinh tránh được điều ác là không gây nghiệp chướng tất sẽ được kết quả tốt đẹp, đạt tới cõi an vui, cực lạc. Thực chất phương pháp tu hành này để đạt tới mục đích siêu sinh, vãng sinh không nằm ngoài luật nhân quả báo ứng. Cho nên giáo lý Tịnh Độ tông chuyên tu hành theo phương thức niệm Phật cầu siêu, sám hối, giải thích: Lấy niệm Phật, hành nghiệp của người tu hành làm nội nhân, lấy nguyện lực của đức A-Di-Đà làm ngoại duyên. Nội, ngoại tương ứng sẽ được vãng sinh sang thế giới Tịnh Độ (Tây phương) Cực lạc thoát khỏi kiếp sống trần gian. Như vậy, niệm Phật chỉ mới là ý nghĩ, sự cầu nguyện, còn phải kết hợp với hành nghiệp là hành động, việc làm mới tạo thành cái nhân bên trong chứa sẵn mầm thiện để được cái quả tức kết quả tốt đẹp. Thế nào là “Lấy nguyện lực của đức A-Di-Đà làm ngoại duyên”? Là có ý nói sự cứu giúp của Phật A-Di-Đà chỉ là tạo điều kiện đất nước, khí hậu để hạt giống lành (thiện) thành cây tốt, cho quả đẹp (sang thế giới Cực lạc). Nếu cha mẹ lúc sống không làm điều thiện, sau cha mẹ chết, con cái phải ra sức làm nhiều việc thiện hơn mới mong giúp cha mẹ siêu thoát. Lễ cầu siêu là lễ Phật cầu cho vong hồn cha mẹ được siêu thoát “vãng sinh Tây phương Tịnh độ Cực Lạc thế giới”, nhưng trai đàn dù lớn đến đâu, nhà sư hành lễ dù đông thế nào, thời gian tụng kinh niệm Phật dù bao lâu, cũng không thể dễ dàng xóa sạch mọi tội lỗi của người chết đã gây ra lúc còn sống. Đối với lễ cúng 49 ngày, chúng ta không bài bác lễ cầu siêu, cũng không mê tín lễ cầu siêu. Nhìn vào thực tế, nhiều địa phương, nhiều nhà, lễ cầu siêu chỉ là hình thức, từ lâu lễ đã biến thành lệ, một thứ “lệ” trước sao, nay thế, người ta thế nào, mình thế ấy, không tìm hiểu, không bàn cãi, bỏ thì không yên tâm, theo thì lắm khi cũng phiền toái. Tuy nhiên, các cụ xưa cũng đã cắt giảm đi nhiều không còn lệ 7 ngày một lần cầu siêu hay cúng giỗ, để đến ngày thứ 49 cúng “luôn một thể” và chẳng ai thấy “làm sao” cả. Còn lễ cúng Bách nhật (tuần Bách nhật) thường nói nôm là “100 ngày”. Các sách gia lễ đều ghi chép lễ này nhưng không giải thích ý nghĩa. Cách hiểu đơn giản gọi là 100 ngày sau khi chết là lễ Tốt khốc, cúng lễ này để thôi khóc, từ đây con cháu thôi không khóc nữa, dẫu thương nhớ cha mẹ đến mức nào cũng phải để trong lòng. Nhưng tại sao lễ cúng cơm đáng lẽ nên dừng, thôi ở tuần 49 ngày lại vẫn tiếp tục cho đến 100 ngày? Cứ như tục dân gian cúng 50 ngày (thay cho 49 ngày) thì 100 ngày là thời gian dài gấp đôi! Phải chăng có liên quan đến lễ Tế Ngu? Sau chôn cất, hồn phách chưa yên, nên làm lễ Ngu tế để tế hồn phách cha mẹ cho được yên (chữ “ngu” là yên). Cầu một lần chưa đủ, hai lần chưa được, phải ba lần mới xong. Lần thứ nhất là sơ ngu, lần thứ hai là tái ngu, lần thứ ba là tam ngu. Cụ cử Phan Kế Bính cho biết: Ngu tế tiến hành trong 3 ngày liên tiếp, mỗi ngày một “ngu”. Và “Nhà phú quý mới có Ngu tế, nhà thường thì trong 3 ngày chỉ những họ hàng thân thuộc đến phúng viếng mà thôi”. (Việt Nam phong tục - 1913-1914). Nhất Thanh nói về Lễ tang trong Đất lề quê thói (Sài Gòn 1970) “Thường thường hôm đưa đám về không thể nào kịp làm lễ tế, vì tế Ngu trọng thể và lâu thời giờ hơn tất cả các lễ tiết trong đám tang. Sau Sơ Ngu là Tái Ngu, chọn ngày nhu: những ngày hàng Can: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý làm lễ. Tam Ngu chọn ngày cương: cũng những ngày hàng Can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm làm lễ. (Sách này cũng như các sách của Phạm Côn Sơn - Gia lễ xưa và nay, Tân Việt - Một trăm điều nên biết...đều chép thiếu, sai. Ở đây, tôi đính chính lại theo Vạn sự và Ngọc hạp, nhưng để bàn cho ra lẽ, không phải để theo). Chúng ta nhận thấy lễ Tế Ngu không thể tiến hành trong 3 ngày liền như các sách viết về lễ tang kể trên đã nói vì phải chọn ngày nhu, ngày cương cho Tái Ngu, Tam Ngu. Ví dụ: nếu tế Sơ Ngu là ngày Ất thì Tái Ngu là ngày Đinh, (phải qua ngày Bính), Tam Ngu là ngày Mậu (tiếp sau ngày Đinh), vậy là 4 ngày (cách quãng 1 ngày). Có lẽ bởi sự phiền phức: một là thời gian kéo dài, hai là phải tính toán “cương, nhu”, dân ta đã lâu tế gồm cả ba Ngu vào một ngày là ngày thứ ba sau khi chôn cất, dân gian thường gọi Mở cửa mả. Những nhà người chết 3 ngày thì chôn, họ làm lễ Mở cửa mả cùng ngày chôn, liền sau khi chôn, tức là 3 ngày họ tính từ ngày mất. Cách tính này cố nhiên là bất hợp lý vì nếu quá 3 ngày mới chôn thì sao? Lễ Tế Ngu không thể kéo dài thời gian trong khoảng 49 ngày hay 100 ngày. Lễ 100 ngày là lễ khác - lễ Tốt khốc (thôi khóc). Sau khi thất phách (bảy vía) đã tiêu tan hết không phải cúng cơm hàng ngày nữa, dân gian vẫn cúng cơm là bày tỏ thêm tình thương nhớ, thời gian này không còn là lễ cúng cơm mà chỉ là lệ cúng cơm. Đó là lệ tục, không phải lễ tục thì không thể truy tìm nguồn gốc từ sách vở kinh điển. (Còn nữa) HTP (Trích từ "Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt")

5 TUYỆT CHIÊU TRÊN ĐIỆN THOẠI CỦA BẠN

Có thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị quên chìa khoá ở trong xe, mất chìa khoá xe vẫn lái xe được, hết pin vẫn sử dụng điện thoại được hoặc khi bạn cần SOS… Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ. Kích hoạt pin dự trữ: Lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin. - ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó. - Đơn giản thôi, bạn chỉ cần bấm: *3370# và bạn sẽ thấy pin lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (*), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng! - Đây là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là "Third Hidden Battery Power" để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book... Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy. SOS: Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn. - Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó. - Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn! Mở cửa xe hơi: Xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo. - Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau: + Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn. + Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe. + Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa. - Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường. - Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ! Bảo vệ dữ liệu: Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím *#06# (xin nhắc lại: hoa thị (*), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau. - Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra. - Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng. Ở Việt Nam có các công ty như Mobifone, Vinaphone, Viettel, FPT… Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng. - Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử. Truy xuất nguồn gốc sản xuất: Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng: - Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm! - Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt. - Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt. - Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua! - Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất. *** Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không bạn!!!

Thứ Tư, 16 tháng 6, 2021

Tấn công mạng

1. Tấn công mạng có quá nhiều cách. Những cách đơn giản nhất như là: lừa đảo, giả mạo trang web chiếm đoạt tài khoản, hack mật khẩu, password...

Hơn chút nữa là dùng các phầm mềm keylogger (ghi chép lại thao tác bàn phím); lừa nạn nhân cài các app có tác dụng theo dõi và điều khiển máy tính, điện thoại; cài các ứng dụng chạy ngầm/ không mong muốn...

Một kiểu nữa mà người Việt rất hay dính là: Chúng ta tải về các phần mềm lậu, đi kèm bản crack (bẻ khóa). 99% trong số các phần mềm này là dính đến virus hoặc có ứng dụng chạy ngầm có thể theo dõi và điều khiển máy tính. Thêm nữa, các app bói toán, đoán tướng mệnh, phán bạn đẹp, bạn giàu hay bạn thông minh IQ vô cực trên Facebook hoặc các web tào lao cũng là thứ bạn dễ dàng bị dính virus, phần mềm gián điệp hoặc các ứng dụng chạy ngầm. (Sau đây gọi nôm na các thứ đó bằng tên chung là virus).

À còn khoản xem sex lậu nữa. 100% các trang xem xếch lậu bằng tiếng Việt là có virus.

2. Bây giờ đến lượt trả lời câu hỏi: Làm thế nào để đánh sập trang chủ của VOV? Thực ra kỹ thuật này không khó nếu... biết cách. Đại đa số các cuộc tấn công "đánh sập" là sử dụng DOS và DDOS.

Nôm na thì DOS, DDOS gọi chung là tấn công từ chối dịch vụ. DDOS là "bản nâng cấp" của DOS. Tấn công DOS dễ bị tìm ra thủ phạm, còn tấn công DDOS thì gần như không thể tìm ra thủ phạm. Hiểu nôm na thì máy chủ (server) của một website giống như bãi đỗ xe siêu thị; mỗi máy chủ lại có băng thông nhất định (hiểu nôm na như đường ra vào bãi đỗ xe của siêu thị). Nếu có quá nhiều xe ra vào, bãi đỗ và đường dẫn ra vào sẽ bị tắc nghẽn và dĩ nhiên bãi đỗ hay siêu thị đó sẽ phải từ chối khách hàng.

DOS, hay DDOS cũng dùng cách tấn công tương tự như ví dụ về tắc nghẽn bãi đỗ xe siêu thị ở trên. Hiểu nôm na là thế này: Khi bạn truy cập vào VOV, vào các bài viết trên VOV thì khi bạn click chuột hay nhấn vào link, từ máy tính bạn sẽ gửi đến máy chủ của VOV (thông qua đám mây) câu hỏi "có người muốn kết nối với mày", được không? Máy sẽ trả lời (tự động) rằng "OK". Sau đó, máy của người dùng sẽ hỏi tiếp "tao muốn kiếm các nội dung về em Ngọc Trinh mặc bikini", mày có không? VOV sẽ phản hồi lại là có, mày được vào để kiếm Ngọc Trinh... Mỗi một lệnh như vậy, máy tính và giao thức mạng sẽ phải băm nhỏ ra thành hàng ngàn mảnh (để mã hóa, bảo mật và đúng chuẩn giao thức). À nói thêm chút nữa, thuật ngữ "ping", ping cao, ping thấp khi chơi game online hay test mạng, chính là tốc độ nhận câu hỏi và phản hồi của máy chủ như nói ở trên.

Hacker sẽ dùng nhiều cách để làm tràn ngập máy chủ và nghẽn băng thông máy chủ bởi những "câu hỏi vô nghĩa" hoặc tập tin lỗi. Một máy thì không thể làm được, hacker sẽ phải huy động hàng chục nghìn máy hoặc cả triệu máy để tấn công?

Lấy đâu ra cả triệu máy để tấn công? Chả lẽ giới "hắc cơ" đông đến mức đó? Không cần, hacker sẽ dùng các máy bị chiếm quyền điều khiển (Là các máy tính, điện thoại đã nhắc đến trong phần 1). Họ sẽ ngồi một chỗ, với cái laptop cũng có thể điều khiển được hàng nghìn, hàng chục nghìn máy zombie gửi liên tục các gói tin lỗi, tin vô nghĩa làm tràn ngập băng thông, chiếm dụng bộ nhớ của server . Khi không thể nhận thêm hay trả lời các gói câu hỏi, máy chủ sẽ từ chối dịch vụ (tức không truy cập được). Lúc này chính thức trang web bị đánh sập!

Có hàng chục phương thức tấn công DDOS, nhưng kiểu nào cũng nhằm mục đích làm nghẽn băng thông máy chủ, làm cho bộ nhớ máy chủ bị tràn. Và như đã nói, vì DDOS huy động hàng chục nghìn máy zombie, thế nên rất khó chống đỡ và tìm ra thủ phạm đích thực!

 

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

5 sự kiện tuyệt chủng hàng loạt trên Trái đất và sự kiện thứ 6 đang diễn ra?

Cái chết của khủng long chỉ là một trong năm sự kiện toàn cầu. Hãy cùng điểm lại 5 sự kiện tuyệt chủng khủng khiếp đó và liệu sự kiện thứ 6 đang diễn ra.Trong 10.000 năm qua, Trái đất luôn xuất hiện một sự kiện tuyệt chủng, nhanh chóng, loại bỏ các loài động vật khỏi hành tinh của chúng ta.

5 lần tuyệt chủng hàng loạt

* Sự tuyệt chủng của Ordovic-Silurian: Khoảng 440 triệu năm trước

Sự tuyệt chủng hàng loạt đầu tiên trên Trái đất xảy ra vào thời kỳ mà các sinh vật như san hô và động vật chân đốt có vỏ lấp đầy các vùng nước nông trên thế giới nhưng vẫn chưa mạo hiểm lên đất liền. Bản thân sự sống đã bắt đầu lan rộng và đa dạng hóa, xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng 3,7 tỷ năm trước . Nhưng khoảng 440 triệu năm trước, một sự thay đổi khí hậu đã khiến nhiệt độ nước biển thay đổi, và phần lớn sự sống trong đại dương đã chết.

Vào cuối kỷ Ordovic, băng hà hàng loạt đã bao phủ siêu lục địa phía nam, Gondwana. Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Oceanology, sự đóng băng trên quy mô này đã làm mất đi tỷ lệ nước cao trên thế giới và hạ thấp đáng kể mực nước biển toàn cầu, làm mất đi môi trường sống quan trọng của nhiều loài, phá hủy chuỗi thức ăn và giảm khả năng sinh sản, theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Oceanology.

Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà khoa học đều đồng ý với điều này. Theo National Geographic, các giả thuyết khác cho rằng kim loại độc hại có thể đã hòa tan vào nước biển trong thời kỳ cạn kiệt oxy, xóa sổ sinh vật biển. Các nhà khoa học khác cho rằng một vụ nổ tia gamma từ một siêu tân tinh đã xé toạc một lỗ hổng khổng lồ trong tầng ôzôn, cho phép bức xạ cực tím chết người giết chết sự sống bên dưới. Theo APS News, có một giả thuyết khác cho rằng núi lửa là nguyên nhân.

* Sự tuyệt chủng muộn của kỷ Devon: Hơn 365 triệu năm trước

Kỷ Devon chứng kiến ​​sự lên xuống của nhiều loài sinh vật biển thời tiền sử. Mặc dù vào thời điểm này, các loài động vật đã bắt đầu tiến hóa trên cạn, nhưng phần lớn sự sống là bơi qua các đại dương. Cho đến khi thực vật có mạch, chẳng hạn như cây và hoa, có khả năng gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt lần thứ hai.

Theo BBC, khi thực vật phát triển rễ, chúng đã vô tình biến đổi vùng đất mà chúng sinh sống, biến đá và gạch vụn thành đất . Đất giàu chất dinh dưỡng này sau đó chạy vào các đại dương trên thế giới, khiến tảo nở hoa trên quy mô khổng lồ. Những đợt nở hoa này về cơ bản đã tạo ra những "vùng chết" khổng lồ, là những khu vực mà tảo lấy đi oxy từ nước, làm chết ngạt sinh vật biển và tàn phá chuỗi thức ăn của biển. Các loài không thể thích nghi với lượng oxy giảm và thiếu thức ăn đã chết.

Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn đang được tranh luận và một số nhà khoa học tin rằng các vụ phun trào núi lửa là nguyên nhân gây ra sự giảm nồng độ oxy trong đại dương, theo một nghiên cứu trên tạp chí Geology .

Một loài thủy quái đã bị xóa sổ khỏi các đại dương trên thế giới như loài cá bọc thép dài 10 m tên là Dunkleosteus .

* Tuyệt chủng kỷ Permi-Trias: ~ 253 triệu năm trước

Sự kiện tuyệt chủng này là sự kiện lớn nhất từng xảy ra trên Trái đất. Nó đã xóa sổ khoảng 90% tất cả các loài trên hành tinh và tiêu diệt các loài bò sát, côn trùng và động vật lưỡng cư sống lang thang trên đất liền. Điều gây ra sự kiện thảm khốc này là một thời kỳ núi lửa tràn lan.

Theo Bảo tàng Sam Noble ở Oklahoma, trong đại dương, mức độ gia tăng của carbon dioxide hòa tan vào nước, đầu độc các sinh vật biển và tước đi nguồn nước giàu oxy của chúng. Nhiệt độ nước biển tăng cũng làm giảm nồng độ oxy trong nước. San hô là một nhóm các dạng sinh vật biển bị ảnh hưởng nặng nề nhất - phải mất 14 triệu năm để các rạn san hô đại dương xây dựng lại như trước đây.

* Tuyệt chủng kỷ Trias-kỷ Jura: Khoảng 201 triệu năm trước

Kỷ Trias là thời kỳ khủng long bắt đầu sinh sống trên thế giới. Thật không may, nhiều ngọn núi lửa cũng đã phun trào vào thời điểm đó. Mặc dù vẫn chưa rõ lý do chính xác tại sao vụ tuyệt chủng hàng loạt lần thứ tư này lại xảy ra, các nhà khoa học cho rằng hoạt động núi lửa lớn đã xảy ra ở một khu vực trên thế giới hiện bị Đại Tây Dương bao phủ . Tương tự như vụ tuyệt chủng kỷ Permi, các núi lửa đã thải ra một lượng khí carbon dioxide khổng lồ, gây ra biến đổi khí hậu và tàn phá sự sống trên Trái đất. Nhiệt độ toàn cầu tăng lên, băng tan, mực nước biển dâng cao và axit hóa. Kết quả là nhiều loài sinh vật biển và đất liền bị tuyệt chủng; chúng bao gồm những con cá sấu lớn thời tiền sử và một số loài pterosaurs biết bay.

Tất cả các loài khủng long đều bị giết trong cuộc tuyệt chủng hàng loạt lần thứ năm.

Các nhà khoa học ước tính rằng, nhiều loài có thể bay, đào hang hoặc lặn xuống độ sâu của đại dương vẫn sống sót. Chẳng hạn, hậu duệ thực sự duy nhất của loài khủng long sống ngày nay là loài chim thời hiện đại - hơn 10.000 loài được cho là có nguồn gốc từ những con sống sót .

Liệu lần thứ 6 đang diễn ra

Theo The Conversation, các nhà khoa học xác định một sự tuyệt chủng hàng loạt khi khoảng 3/4 số loài chết dần trong một thời gian địa chất ngắn, tức là ít hơn 2,8 triệu năm .

Hiện tại, con người đang ở giai đoạn đầu của cuộc tuyệt chủng hàng loạt mới nhất, diễn ra nhanh hơn nhiều so với bất kỳ loài nào khác. Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) , kể từ năm 1970, quần thể các loài động vật có xương sống đã giảm trung bình 68% và hiện có hơn 35.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng, Chỉ trong thế kỷ 20, có tới 543 loài động vật có xương sống trên cạn đã tuyệt chủng, theo một bài báo nghiên cứu trên tạp chí PNAS .

Kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp vào năm 1760, con người đã là nhân tố chính gây ra cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay của Trái đất. Từ việc phát thải khí nhà kính và sự suy giảm tầng ôzôn đến nạn phá rừng, chất đống nhựa và buôn bán động vật bất hợp pháp, con người đã chủ động tước đoạt thế giới của một số loài và đe dọa nhiều loài khác.

Du lịch sinh thái là một ngành thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn trên toàn thế giới, nhưng nó đang trên bờ vực sụp đổ kể từ khi các hạn chế du lịch toàn cầu được áp dụng. Không có thu nhập từ khách du lịch, các nhà bảo tồn đang gặp khó khăn trong việc bảo vệ các loài dễ bị tổn thương khỏi nạn săn trộm, trong khi đại dịch COVID-19 đang gia tăng. The New York Times đưa tin. Tê giác ở Botswana, mèo hoang ở Nam Mỹ và hổ ở Ấn Độ đều đã bị nhắm tới trong năm qua.

Trong bối cảnh của đại dịch hiện nay, thị trường động vật hoang dã đã trở thành tâm điểm chú ý vì không chỉ vô trách nhiệm với môi trường mà còn có khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe con người thông qua các bệnh lây truyền từ động vật sang người - chẳng hạn như đại dịch COVID-19. Những khu chợ này, buôn bán động vật ngoại lai sống hoặc các sản phẩm có nguồn gốc từ chúng, được tìm thấy trên khắp thế giới. Ví dụ, các trang trại nuôi gấu ở châu Á nhốt 20.000 con gấu đen châu Á để lấy mật, dẫn đến sự suy giảm quần thể hoang dã.

Một giải pháp tiềm năng khác để chống lại sự tuyệt chủng có thể là nhân bản các loài. Vào tháng 2 năm 2021, các nhà khoa học tiết lộ họ đã nhân bản thành công một con chồn chân đen từ một con vật đã chết cách đây hơn 30 năm. Có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, những loài động vật có vú nhỏ này được cho là đã tuyệt chủng cho đến khi một thuộc địa nhỏ được tìm thấy vào đầu những năm 1980, chúng được tham gia vào chương trình nhân giống và tái giới thiệu trên khắp nước Mỹ. Quy trình nhân bản tương tự như quy trình nhân bản cừu Dolly vào đầu những năm 1990.

Nguồn: Tiền phong

 

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

CHƠI TẾT MÙNG BA THÁNG BA LÀ "PHONG TỤC CỔ CỦA AN NAM TỪ XƯA"

 Bài của PGS. TS Trần Thị Băng Thanh



 

Nhân dân ta từ rất xa xưa có tục ăn tết Mồng ba tháng ba. Trong ngày tết ấy người dân không nhóm lửa, chỉ ăn đồ nguội, vì thế Tết mồng ba tháng ba còn gọi là “Tết hàn thực” (Tết ăn đồ nguội). Ngày nay tục lệ ấy vẫn thịnh hành. Giải thích về tục lệ này, nhiều người đều cho là bắt nguồn từ Trung Quốc, gắn với câu chuyện về cái chết thương tâm của Giới Chi Thôi.

Tích truyện kể rằng Tấn Văn Công trong những ngày gian khổ mưu cầu sự nghiệp bá vương, có lúc bị đói, Giới Chi Thôi đã cắt thịt đùi mình dâng ông ăn. Sau khi thành công, khen thưởng, Tấn văn Công quên Giới Chi Thôi, Giới buồn hận bỏ đi. Sau Văn Công nhớ ra triệu vời nhưng Giới không đến, trốn vào rừng. Tìm gọi mãi không được, Tấn Văn Công sai đốt rừng để Giới phải chạy ra; nhưng Giới Chi Thôi ôm cây chịu chết cháy chứ nhất định không tha thứ cho vị quân chủ mà Giới cho là vô tình. Tấn Văn Công sửa lỗi, nhưng lỗi lại chồng thêm lỗi nên hối hận, từ đó sai lệnh cấm lửa trong ngày này (mồng 3 thấng 3) để tưởng nhớ người bề tôi trung thành mà ông vì vô tâm đã bỏ quên. Cho đến ngày nay, chắc chắn chúng ta cũng đinh ninh nguồn gốc của ngày tết này là như thế.

Nhưng cách đây đúng 720 năm, Trần Nhân Tông (1258 – 1308) đã nói rõ đó là “phong tục cổ của An Nam từ xưa”. Ông khẳng định điều đó trong một bài thơ kèm theo mâm bánh biếu sứ giả nhà Nguyên Trương Hiển Khanh (tên là Lập Đạo) sang Việt nam năm 1292. Bài thơ như sau:

Giá chi vũ bãi thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,

Tòng lai phong tục cựu An Nam.

(Múa giá chi rồi, thử áo xuân

Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thần

Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc

Phong tục An Nam theo cổ nhân.)

Biếu Trương Hiển Khanh bánh xuân

(Trần Lê Văn dịch)

Bài thơ giọng điệu trang nhã, vừa rất ân cần với khách vừa ý tứ sâu xa.

Trước hết hãy nói về Trương Hiển Khanh. Người Việt nam chắc ai cũng nhớ, vào năm 1288 nước ta vừa “đại phá” cuộc xâm lược của nhà Nguyên lần thứ ba. Vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) vốn rất hận, đã tập trung lực lượng chuẩn bị đánh lần thứ tư vào năm 1294. Trương Hiển Khanh là Thượng thư bộ Lễ của Nguyên triều sang Việt Nam có nhiệm vụ “dụ” vua Trần phải thực tâm thần phục, sang triều kiến vua Nguyên và chịu làm theo mọi điều kiện nhà Nguyên áp đặt, nếu không thiên triều sẽ “trừng phạt”. Có thể Trương Hiển Khanh cũng còn một nhiệm vụ nữa là quan sát xem nước Việt sau năm năm với hai cuộc chiến khốc liệt, thế và lực ra sao. Vua tôi nhà Trần hiểu rất rõ điiều đó, cho nên cuộc tiếp sứ lần này thực chất là một cuộc đấu tranh ngoại giao gai góc chứ không phải là cuộc thăm hỏi xã giao. Nhưng Trần Nhân tông hết sức chủ động, nhà vua chủ trương “hóa giải” tình hình đó, trước hết với vị sứ thần có địa vị cao trong Nguyên triều và chắc chắn có học vấn. Vua tiếp sứ giả ở Điện Tập hiền với phong cách rất thân mật, chủ tâm theo phong tục An Nam: đặt tiệc mời toàn hải sản, trong lúc trò chuyện thỉnh thoảng lại mời ăn trầu, thậm chí còn mời vào trong trướng “ngồi xuống đất”. Trong cả chuỗi sự kiện tiếp đãi với tinh thần khẳng định bản lĩnh dân tộc đó, vua Nhân Tông trong ngày tết Mồng ba tháng Ba đã biếu Trương Hiển Khanh một mâm bánh với bài thơ trên. Các vua nhà Trần là những người có học, chắc chắn nhà vua biết rõ câu chuyện Giới Chi Thôi, nhưng với căn cứ gì vua Nhân Tông khẳng định đó là “phong tục cổ An Nam từ trước tới nay”? Trần Nhân Tông không ghi chú rõ, nhưng gần đây tìm hiểu ý tứ của bài thơ này, chúng tôi đã thấy một căn cứ. Nguyên là theo sách Kinh Sở tuế thời ký thì ngày thứ 105 trong tiết đông, thường có mưa to gió lớn, gọi là tiết Hàn thực, người ta cấm lửa trong 3 ngày; Lời chú của sách này nói: Theo lịch thì tiết ấy vào khoảng trước thanh minh 2 ngày, cách ngày đông chí 106 ngày. Một sách “biệt lục” của Lưu Hướng cũng nói tiết Hàn thực có từ đời Chu; tiết này được gắn với truyện Giới Chi Thôi là từ thời Hậu Hán. Cũng sách này còn ghi người bản địa “thổ nhân” trong ngày 3 tháng ba còn ra bến sông, thả chén chỗ sông quanh vui uống rượu. Như vậy có thể nói ngày 3 tháng ba là một lễ hội của cư dân nông nghiệp phía nam, từ vùng Kinh Sở trở xuống (mà Việt Nam ngày nay xa xưa cũng là một trong Bách Việt. Bách Việt khác Hán tộc). Vì thế Nhân Tông mới nhấn mạnh đây là “phong tục cổ của An Nam”. Cũng có thể còn thêm một căn cứ nữa là nếu cứ theo tích Giới Chi Thôi thì tết mồng ba tháng ba là một cái tết buồn, nhưng trái lại với Việt Nam đây là một lễ hội vui, có múa hát, có mặc áo mới và ăn một thứ bánh có rau, tinh khiết như “hồng ngọc” mà vua gọi là “bánh xuân”. Bài thơ hai mươi tám chữ tặng Trương Hiển Khanh của Trần Nhân Tông quả là có một chiều sâu tư tưởng, một vẻ đẹp nhân văn rất đáng để hậu thế chiêm ngưỡng và suy ngẫm.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

Sách: Tiền sử người Việt


Hà Văn Thùy


­­
LỜI NÓI ĐẦU

  Khảo cổ học là khoa học bắt đầu và kết thúc với vật cổ. Một khi không có vật cổ, khảo cổ học chấm dứt! Suốt thế kỷ XX, chúng ta chỉ biết cốt sọ cổ nhất của người Việt tại Sơn Vi 32.000 năm. Những câu hỏi bức xúc được đưa ra: Phải chăng ngưới Sơn Vi là người hiện đại xuất hiện sớm nhất trên đất Việt Nam? Họ từ đâu tới? Không lời đáp! Rồi khi phát hiện bộ xương người Lưu Giang Quảng Tây 68.000 năm và cốt sọ hang Tampa Lin Bắc Lào 63.000 năm, có thêm cật vấn: “Họ là ai, từ đâu ra, có quan hệ thế nào với người Sơn Vi và những người Việt cổ khác?” Khảo cổ học im lặng!
Những năm cuối thế kỷ XX, bùng nổ thông tin gây chấn động: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi 200.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ Dương, người từ châu Phi di cư tới Việt Nam. Nghỉ lại ở đây 20.000 năm để gia tăng nhân số, 50.000  năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á và chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, do khí hậu phía Bắc được cải thiện, người từ Việt nạm đi lên khai phá Hoa lục. 30.000 năm trước, từ Siberia vượt qua eo Bering, chinh phục châu Mỹ…”  Giới khảo cổ học choáng váng. Tuy nhiên, khám phá từ ADN không thể nghi ngờ! Như vậy, thực tế cho thấy, con người đã có mặt tại Việt Nam từ 70.000 năm trước. Nhưng thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt đã xóa đi mọi dấu vết của họ, khiến cho 40.000 năm chìm vào đêm tối!
Người từ châu Phi tới Việt Nam là ai? Chưa bao giờ di truyền học trả lời câu hỏi rất quan trọng này. Dựa trên bằng chứng khảo cổ là những cốt sọ, nhân học đưa ra lời đáp: “Vào thời đồ đá, trên đất Việt Nam xuất hiện hai đại chủng Australoid và Mongoloid. Họ hòa huyết với nhau và con cháu họ hòa huyết tiếp sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc nhóm loại hình Australoid. Sang thời kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư. Người Australoid biến mất khỏi đất này không hiểu do di cư hay đồng hóa?” Đây là khám phá quyết định chiều hướng của lịch sử: những con người được sinh ra ở Việt Nam 70.000 năm trước làm nên dân cư và văn minh phương Đông!
Điều không bình thường là, gần hết thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, chưa có bất cứ nghiên cứu nào về khoảng thời gian 40.000 năm “ngoài vòng khảo cổ!” Tổ tiên Việt đã sống thế nào trong suốt thời gian dằng dặc ấy? Không giải được câu hỏi này, không thể nói gì về tiền sử người Việt! Khi không có hiện vật khảo cổ, là lúc trí tưởng tượng bắt đầu. Có thể là kịch bản như thế này:
70.000 năm trước, trên đường sang phương Đông, một dòng người châu Phi theo bờ Tây của Borneo, bước vào đồng bằng Sundaland, rồi đi lên hướng Bắc. Lúc này đang Thời Băng hà, mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét. Đông Nam Á là lục địa mênh mông. Không hiểu vì sao họ không tỏa ra chiếm lĩnh vùng đất màu mỡ này mà đi tiếp tới miền Trung Việt Nam rồi dừng lại. Chúng tôi đoán, chỉ đoán thôi, có khoảng 2000 đến 3000 người thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid tới được Việt Nam. Sau hành trình 15.000 năm gian nan, tới đây họ đã gặp “địa đàng ở phương Đông”với khí hậu ấm áp, rừng cây xanh tươi, nhiều muông thú, hoa trái, sông suối nhiều ốc, sò, tôm, cá… Những nhóm nhỏ khoảng 15-20 người gặp nhau khi cùng săn bắn và hái lượm. Tình yêu đến và những đứa trẻ ra đời. Theo năm tháng, dân số tăng lên. Một số ít sống trong hang động còn phần lớn dựng những túp lều bằng cây lá dưới tán rừng.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

NGÀY KHAI GIẢNG: ĐÔI ĐIỀU VỀ NHỮNG LÁ THƯ

Bài của Hà Thanh Tùng
Mỗi năm, ngày khai giảng như đã thành thông lệ với nhiều lứa tuổi. Ngày mà cả hệ thống giáo dục cả nước đều được nghe bức thư chúc mừng của Chủ tịch nước, chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nhưng nghe mãi nghe hoài đó là giọng văn chung chung không điểm nhấn, không lối thoát. Lúc nào cũng luôn nhấn mạnh mọi lứa tuổi học sinh phải: “Học tập, làm theo…” những từ ngữ sáo rỗng.
Trong bức thư Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi thư dịp khai giảng năm học 2019-2020 có đoạn: “Tôi mong các em học sinh, sinh viên tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, noi theo các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu học tập tốt, rèn luyện tốt để sau này trở thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Chính những quan niệm này tạo thành một lối tư duy mòn, không có khả năng tư duy độc lấp, khám phá ra những mới lạ, không khẳng định được cái “tôi” tự do trong mỗi con người. Cứ “học tập và làm theo…” một thế hệ học sinh - sinh viên sẽ thành con cừu non dễ chăn dắt.
Mục đích của nền giáo dục không phải là lối mòn theo những lề thói cũ mà là khai phóng và nhân bản. Mục đích của giáo dục không phải là sản sinh ra những nhà khoa học những người vừa “Hồng vừa Chuyên”. Mà nó cố tìm cách để phát triển những giá trị nhân bản của con người biết cách sử dụng trí tuệ của mình và có thể độc lập suy nghĩ. Mục đích hàng đầu của giáo dục không phải là phát triển khả năng chuyên môn, dù một nền giáo dục khai phóng là không thể thiếu được đối với bất kỳ một nghề chuyên môn về đầu óc nào.
Nền giáo dục khai phóng và nhân bản sản sinh ra những công dân có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ một cách có trách nhiệm. Nó phát triển những con người trí thức có thể sử dụng thời gian của họ một cách hữu ích. Nó là một nền giáo dục cho tất cả những người tự do, dù họ có ý định trở thành nhà khoa học hay không.
Học tập phải luôn sáng tạo và không lệ thuộc về ý thức hệ, đó phải là một nền giáo dục khai phóng và nhân bản. Các môn học khai phóng, theo truyền thống, đều nhằm phát triển những năng lực trí tuệ của con người, những năng lực trí tuệ và trí tưởng tượng mà không có chúng thì ta không thể hoàn tất được một công việc trí tuệ nào. Giáo dục khai phóng không bị trói buộc vào những môn học nào đó, kiểu như triết học, lịch sử, văn chương, âm nhạc, nghệ thuật, và những môn được gọi là “khoa học nhân văn” khác.

Khi đã bàn về giáo dục thì phải đề cao khả năng khai phóng và nhân bản đó mới là mục đích chính của giáo dục. Những đứa trẻ của một nền giao dục như vậy trong quá trình trưởng thành được cung cấp cả một gói tri thức có cấu trúc tương đối hài hòa gồm những kiến thức phổ thông kết hợp với những hiểu biết phong phú về thiên nhiên, con người và các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là kỹ năng hợp tác. Điều đó giúp chúng có nhiều cơ hội trở thành một con người nhân văn, tự tin với sức khỏe tâm lý lành mạnh để hòa nhập vào cuộc sống tự lập và phát triển cá nhân. Đó cũng có thể được coi là một nền giáo dục tôn trọng tuổi thơ của trẻ em.

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

TÔI ĐI VIẾNG NHÀ GIÁO PHẠM TOÀN


TÔI ĐI VIẾNG NHÀ GIÁO PHẠM TOÀN ( Thành viện Hội Giáo chức Chu Văn An ): một đám tang đặc biệt chưa từng thấy! Ca sỹ Lộc Vàng hát tiễn biệt bằng lời bài hát " Niệm khúc cuối " ( tác giả Ngô Thụy Miên ) thật xúc động lòng người ! ( Clip của FB chú Tễu - Xuân Diện )








Thứ Năm, 27 tháng 6, 2019

Phạm Toàn - Con người viết hoa


Lê Phú Khải (Thành viên CLB Lê Hiếu Đằng)
Tất cả những từ ngữ tốt đẹp nhất, dù có được huy động hết lên trang giấy cũng đều không đủ để viết về con người Phạm Toàn.
Ông là nhà báo, nhà văn có tài với bút danh Châu Diên nổi tiếng, là nhà ngôn ngữ học, là dịch giả của hàng nghìn trang sách khó dịch nhất, là nhà hoạt động chính trị đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam với trang diễn đàn Bauxite Việt Nam, và trên hết, ông là nhà giáo tự tập hợp học trò và bạn bè để soạn sách giáo khoa Cánh Buồm suốt 9 năm ròng khi trong túi không có một đồng xu nhỏ! Sách giáo khoa Cánh Buồm ra đời như một thách thức của một cánh buồm nhỏ trên đại dương trước cơn sóng bạc đầu sách giáo khoa nhà nước chi hàng trăm nghìn tỷ để “soạn” ra nó! Có trường tiểu học ở Hà Nội đã dạy theo sách Cánh Buồm nhiều năm nay, và học trò nhỏ chăm chỉ đi học hàng ngày, vì đến trường… vui quá!



Một thành viên trẻ của nhóm Cánh Buồm, tác giả và Phạm Toàn.

Nghe tin bạn bè đến chơi báo tin ông Phạm Toàn ốm nặng, tôi chỉ cười. Vợ tôi mắng: Năm nào ông cũng ra Hà Nội cả tháng để soạn sách giáo khoa với ông Phạm Toàn, mà nghe tin ông ấy ốm nặng lại chỉ cười! Tôi mắng lại: Người như Phạm Toàn thì không thể chết được! Ông ấy là lực sĩ.
Sở dĩ tôi quả quyết Phạm Toàn không thể chết được, vì cách đây 2-3 tháng, ông mới gọi điện cho tôi và ra chỉ thị: Mày chọn cho tao độ 10 người trong đó, có tâm huyết với giáo dục để tao gửi email cho các vị ấy, nhờ đọc và nhận xét về cuốn sách giáo khoa nhóm Cánh Buồm mới soạn xong chưa in… Đang làm việc say sưa như thế thì làm sao mà chết được!
Sở dĩ tôi quả quyết Phạm Toàn không thể chết được, vì ông ta là lực sĩ. Chuyện thế này, cuối năm 2017, theo chỉ thị của Phạm Toàn, ông bảo tôi phải ra sớm, ở nhà ông, để đọc hết 5 tập sách giáo khoa: Lối sống 1, Lối sống 2, Lối sống 3, Lối sống 4, Lối sống 5… mà ông cùng nhóm Cánh Buồm soạn cho môn “Giáo dục đạo đức” ở bậc Tiểu học. Nửa tháng trời ở nhà Phạm Toàn, tôi đã đọc hết 5 sách Lối sống của Tiểu học. “Lối sống đồng thuận” là nguyên lý đạo đức đã được nhóm Cánh Buồm trịnh trọng triển khai thành từng bài học đạo đức cho bậc Tiểu học.