Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị - xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị - xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

VietnamNet: Nguyên nhân cuộc chiến phi nghĩa xâm lược VN 1979 của nhà cầm quyền TQ

 Đôi lời: hình như lâu rồi mới có một bài viết trên báo quốc doanh có lời lẽ rành rẽ, mạnh mẽ như vậy về cuộc chiến Trung-Việt 1979, trong đó nhắc tới kẻ thủ ác Đặng Tiểu Bình, đến “giới cầm quyền Trung Quốc“, với hành động “phi nghĩa“, “xâm lược“, “sát hại“, “cướp bóc“, …. Tựa bài được BS sửa lại, nhưng vẫn bám sát nội dung bài viết. BS

·                                 3122. Tại sao Việt Nam không dạy lịch sử cuộc chiến tranh Trung-Việt?

·                                 3120. Nguyên nhân của chiến tranh biên giới Việt-Trung

Chiến tranh biên giới: Nhìn lại để trân quý nền hòa bình hiện tại

TUANVIETNAM

17/02/2022    06:00 GMT+7

TS Phạm Minh Thế (Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) 

Bài viết cung cấp cho độc giả cách nhìn nhận về nguyên nhân của cuộc chiến tranh từ tư liệu hồi ức của các cựu quân nhân Việt Nam.


 

Tuyên bố của Trung Quốc

Ông Đặng Tiểu Bình – lãnh đạo Trung Quốc đã có những phát biểu, tuyên bố trước về một cuộc chiến tranh đối với Việt Nam.

Trong chuyến đi thăm Mỹ vào cuối tháng 1, đầu tháng 2/1979, ông Đặng Tiểu Bình trao đổi với Tổng thống Jimmy Carter về một số chính sách của Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh: “Trung Quốc vẫn phải dạy cho Việt Nam một bài học. Liên Xô có thể sử dụng Cuba, Việt Nam, và sau đó Afghanistan phát triển thành một nước ủy nhiệm. Trung Quốc đang tiếp cận vấn đề này từ một thế mạnh. Hành động sẽ rất hạn chế”.

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Vì sao Liên Xô sụp đổ?

Lê Phú Khải 

 Viết nhân 30 năm ngày Liên Xô sụp đổ 25-12-1991 – 25-12-2021 Ngày 22-8-1991, Goocbachôp đang bị giam lỏng ở khu nghỉ mát Krym đã về Matxcơva nắm lại quyền tổng thống và tuyên bố từ chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, yêu cầu Ban chấp hành trung ương Đảng giải thể. Ngày 25-12-1991, Tổng thống Liên Xô Goocbachôp từ chức và bàn giao mật mã kích hoạt tên lửa hạt nhân của Xô Viết cho Tổng thống Nga Boris Yelsin vào 7 giờ 30 phút tối cùng ngày. Liên Xô chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 26-12-1991 bởi tuyên bố số 1420-H của Hội đồng Tối cao Liên bang Xô Viết, công nhận quyền độc lập của 12 nước cộng hoà còn lại. Liên Xô tan rã sau 74 năm đã khiến nhiều người cộng sản trên thế giới chết lặng trong đau đớn bàng hoàng, trong đó có những người cộng sản Việt Nam! Liên Xô là đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới, ¼ các nhà bác học thế giới là của Liên Xô. Liên Xô có tiềm năng khoa học kỹ thuật rất lớn, đã đạt đỉnh cao về vật lý hạt nhân, cơ học lượng tử, chinh phục vũ trụ. Đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới đó, lại không có trí thức! Hay nói đúng hơn là không có tầng lớp trí thức, không có tầng lớp tinh hoa có khả năng “đánh thức không cho xã hội ngủ” (Cao Huy Thuần). Dưới chế độ độc tài, Liên Xô chỉ có một lớp người “thông minh, béo tốt và dễ bảo” như lời chị Irina – Trưởng ban Việt ngữ Đài phát thanh đối ngoại Matxcơva – nói với tôi vào lúc đó, tức tháng 3 năm 1991 tại Matxcơva. Vẫn theo lời chị Irina, lớp người thông minh và béo tốt ấy để đảng sai khiến, để lãnh tụ dạy bảo! Báo chí với vai trò “dẫn đầu và báo trước hiểm nguy” (Josep Plitzer) hoàn toàn vắng bóng ở Liên Xô. Văn học nghệ thuật “là niềm vui thích cao nhất mà con người tự đem lại cho mình” (Marx) thì ở xã hội Liên Xô nó chỉ là công cụ để ca ngợi kẻ cầm quyền! Chính vì thế mà nhà tương lai học nổi tiếng của Mỹ AlvinToffler, tác giả của ba bộ sách: Cú sốc tương lai (Future Shock), Làn sóng thứ ba (The Third Wave), Thăng trầm quyền lực (Power Shift) – những cuốn sách mà giới trí thức cải cách của Trung Quốc xem là Kinh Thánh của mình, còn ông Đặng Tiểu Bình xem là sách gối đầu giường của mình –, tác giả Alvin Toffler nhìn nhận Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917 như một “làn sóng” tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn, mà không nhìn nhận nó như một tiến trình xã hội bền vững văn minh. Alvin Toffler viết: Ở nước Nga, sự va chạm giữa những lực lượng Làn sóng thứ nhất và thứ hai cũng nổ ra. Cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917 là bản dịch của Nga về cuộc nội chiến ở Mỹ. Nó được chiến đấu không phải cho chủ nghĩa cộng sản, mà là cho vấn đề công nghiệp. Khi những bônsêvich quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nông nô và nền quân chủ phong kiến, nó đẩy nông nghiệp ra phía sau và tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn. Họ trở thành Đảng của làn sóng thứ hai (Làn sóng thứ ba – Alvin Toffler – NXB Thông tin Lý luận Hà Nội – 1992 – trang 23). Nhận định của tác giả “Làn sóng thứ ba” cho chúng ta cơ sở để suy nghĩ, lý giải vì sao Đại hội 14 của Đảng cộng sản Liên Xô tháng 12-1925 quyết định công nghiệp hoá trước tiên, nhắm vào công nghiệp nặng. Và chỉ sau 15 năm, Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp, đứng đầu châu Âu về tổng sản lượng công nghiệp. Công cuộc tập thể hoá nông nghiệp chỉ tiến hành sau đó, và cũng chỉ để phục vụ phát triển công nghiệp. Stalin cũng dùng những biện pháp hành chính để ưu đãi đặc biệt (hưởng theo nhu cầu) đối với đội ngũ các nhà bác học (không phải trí thức!). Thành phố mang tên “Ngôi sao” được lập nên. Các nhà bác học được hưởng chế độ “hưởng theo nhu cầu” ở thành phố Ngôi sao này. Vì thế, Liên Xô mau chóng đưa được người lên vũ trụ. Nhưng lên được vũ trụ rồi, vẫn phải quay về đất nước mà ở đó không có nhân văn, ở đó tan rã về đạo đức, thiếu vắng lương tâm công dân, những kẻ có hành vi tồi tệ lại nắm giữ những vị trí then chốt. Những điều đó mọi người Xô Viết đều biết và im lặng! Lương tâm người Xô Viết im lặng! Nhà văn Xô Viết Damien Granin đã viết về sự xói mòn lương tâm ấy qua nhiều truyện ngắn của ông trên báo Văn học Liên Xô về nạn hối lộ trong các bệnh viện vào những năm 1987-1988. Khi đã cải cách cải tổ, xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong những năm tháng dưới chế độ toàn trị, bệnh quan liêu mệnh lệnh, đặc quyền đặc lợi… thực chất là một xã hội phong kiến trá hình do bọn quý tộc đỏ quyết bám trụ sau “làn sóng thứ hai”. Vì thế nó hung bạo hơn bất cứ chế độ độc tài nào trong lịch sử. Nó gia cố tệ sùng bái cá nhân, xây dựng uy quyền tuyệt đối nhằm kiểm soát toàn bộ đời sống xã hội, từ văn hoá, kinh tế, quân sự, chính trị đến đời sống dân sinh và tư duy cá nhân. Mọi suy nghĩ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, phục tùng tuyệt đối với “lãnh tụ vĩ đại”, với “người cha của tổ quốc”, với “nhạc trưởng của khoa học”, “người trông nom hạnh phúc của loài người”… Vì thế, người ta có thể giải thích được, vì sao Stalin lại có thể trị vì lâu đến thế, và giết nhiều người đến thế! Giết người không cần xét xử là đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa cộng sản dưới thời Stalin! Hai mươi năm cầm quyền của Brêgiơnep sau này là hai mươi năm trì trệ mà “cơ chế kìm hãm” chiếm ưu thế. Từ sau khi Khơrutsốp bị gạt khỏi chức vụ Bí thư thứ nhất, Liên Xô bị giằng xé giữa hai xu thế đối lập nhau, mà xu thế quan liêu bảo thủ thắng thế. Bọn quan liêu bảo thủ xuất hiện và củng cố địa vị, từ trên xuống dưới, từ cao đến thấp, chúng dung dưỡng cho bọn tham nhũng. Thói bịp bợm, nạn nghiện ngập thâm nhập cả vào giới lãnh đạo cao cấp. Trong công tác cán bộ, sự đề bạt theo nguyên tắc trung thành với cá nhân khuyến khích thói xu nịnh và tâng bốc, tách rời nói và làm. Trong xã hội xuất hiện tâm lý tiêu dùng, “sùng bái cái tầm thường”. Dân chúng chán nản, thờ ơ với mọi thứ. Xã hội Liên Xô không vượt qua được sự trì trệ và đình đốn. Ngày 7-11-1982, theo thường lệ, Matxcơva tổ chức diễu binh kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Ba ngày sau Brêgiơnep chết. Mấy ngày sau nhân dân hân hoan đón nhận tin Andropop được cử làm Tổng bí thư của đảng. Những yêu cầu đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã chín muồi, vì thế những người cộng sản Liên Xô hân hoan nghe Andropop tuyên bố khi nhậm chức: “Từ lâu chúng ta đã quen bằng lòng với những biện pháp nửa vời, bây giờ là lúc phải giành lại những thời gian đã mất”. Andropop bắt tay vào những công việc cải cách với nghị lực hiếm thấy. Bắt đầu từ lập lại kỷ cương trong lao động, chặn đứng tham nhũng, cải tổ cơ cấu kinh tế. Một số lãnh đạo từ cơ sở đến cao cấp bị thay thế. Xã hội Liên Xô bắt đầu rung chuyển. Nhưng ngày 9-2-1984, Andropop từ trần trong sự bàng hoàng của nhân dân Xô Viết. Trecnenkô được cử lên thay. Cái đà khởi động dưới thời Andropop “dần dần chựng lại” như nhận xét của một số người. Ngày 10-3-1985 Trecnenkô mất. Goocbachốp, người trẻ nhất trong Bộ Chính trị (54 tuổi) được cử lên thay. “Kỷ nguyên Goocbachốp bắt đầu”. Ngày 23-4-1985, Goocbachốp triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng. Một hội nghị được coi là bước ngoặt trong lịch sử Liên Xô. Tại hội nghị đó, Goocbachốp đề ra chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, được gọi là “chiến lược gia tốc”. Từ đó cho đến lúc Liên Xô tan rã, công cuộc cải tổ và đổi mới ở Liên Xô đã diễn ra như thế nào thì chúng ta, những người Việt Nam và nhân loại đã thấy, và đã có không biết bao tranh cãi, bút mực đã đổ ra để lý giải về sự sụp đổ và tan rã của “đế quốc” hùng mạnh này. Có lẽ, tôi là nhà báo Việt Nam cuối cùng có mặt ở Liên Xô trong những giờ phút cuối cùng (1991) trước biến cố lịch sử này. May mắn hơn nữa cho tôi là được làm việc với các nhà báo Liên Xô trong Ban Việt ngữ của Đài phát thanh Đối ngoại Matxcơva, những người rất am tường thế cuộc và nói tiếng Việt rất trôi chảy. Được nhìn tận mắt, nghe tận tai – bằng tiếng Việt –, và được các bạn Nga lý giải những khúc mắc của mình về xã hội Xô Viết, tôi có thể nêu lên bốn nguyên nhân cơ bản về sự sụp đổ của Liên Xô: Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô áp đặt quyền lực tuyệt đối lên nhà nước, làm thay bộ máy nhà nước, khiến bộ máy Đảng rất cồng kềnh, già cỗi, kém hiệu quả. Nhóm cải cách Goocbachốp vừa không thoát khỏi cách làm cũ, vừa mắc sai lầm mới, không kiểm soát được xã hội. Hai là, hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế không động viên được sức lao động. Kế hoạch kinh tế cưỡng ép, chủ quan, đi ngược quy luật kinh tế. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, do ai cũng có quyền ra lệnh, can thiệp vào các hoạt động kinh tế và không ai chịu trách nhiệm về các kết quả kinh tế cuối cùng. Ba là, chính quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân. Các hoạt động văn hoá nghệ thuật trở thành nhạt nhẽo, nghèo nàn. Tâm hồn người Xô Viết khô héo! Một nguyên nữa phải nhắc đến là Liên Xô đã “sập bẫy” trong cuộc chạy đua trong chiến tranh lạnh với Mỹ và sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm ở Afghanistan. Nếu ai còn nghi ngờ gì về sự sụp đổ của Liên Xô, thì xin đọc lại diễn văn từ chức dài 7 phút do Tổng thống Goocbachốp đọc trên Đài Truyền hình Liên Xô (mà Thông tấn xã Việt Nam trong bản tin mật đã đăng lại): “Tôi có thể làm Nga Hoàng 20 năm nữa, nhưng như thế là vô đạo đức nên tôi đã cải cách… Các bạn sẽ làm tiếp”. Sài Gòn, 20-12-2021 

 L.P.K.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

HỊCH TƯỚNG SĨ THẾ KỶ 21

(Sách văn học ko cần dầy, in bài này là đủ.)

Ta cùng các ngươi

Sinh ra phải thời bao cấp

Lớn lên gặp buổi thị trường.

Trông thấy:

Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng

Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước

Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người

Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.

Thật khác nào:

Đem cổ tích mà biến thành hiện thực

Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa

Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.

Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,

Học vị đã cao, học hàm không thấp

Ăn thì chọn cá nước, chim trời

Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến

Chức nhỏ thì ta… quy hoạch

Lương ít thì có lộc nhiều.

Đi bộ A tít, Cam ry

Hàng không Elai, Xi pic.

Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận

Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.

Lại còn đãi sỹ chiêu hiền

Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.

Lại còn chính sách khuyến khoa

Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

Thật là so với:

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2021

TRÍ THỨC VÀ TIẾNG NÓI PHẢN BIỆN

  


Tạ Duy Anh (Lao Ta)

Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào.

Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó, trở thành những kẻ xu nịnh hèn mạt.

Trong khi đó, trí thức là “kho trí khôn” là “túi càn khôn”, là “mỏ trí tuệ” của những xã hội văn minh, đề cao tiếng nói phản biện. Tại đó, trí thức và giới trí thức không chỉ là những người cung cấp ý tưởng, tư tưởng, các sáng kiến, vạch ra kế sách, can dự vào các chính sách, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị tinh thần cao quý như đạo đức, lẽ phải, sự tiến bộ, định hình chiến lược giúp quốc gia hướng tới tương lai.

Vậy trí thức thực chất là ai?

Có khá nhiều định nghĩa thế nào là một trí thức? Theo tiêu chí học vấn và có vẻ cũng dễ được chấp nhận nhất, thì trí thức là người có bằng cấp, có học hàm học vị. Theo tiêu chí công việc, thì trí thức là những người chuyên nghiên cứu, phát minh, sáng chế, quản lý, truyền thụ kiến thức....nghĩa là làm việc bằng cái đầu. Rồi với mỗi chế độ xã hội lại có những định nghĩa khác nhau, theo quan niệm riêng của mình, về trí thức.

Một trí thức lớn (mà tôi không nhớ tên) có một cách nói rất hay, làm nổi bật chân dung của một trí thức. Ông bảo rằng: Người nghĩ ra bom hạt nhân, chắc chắn phải là một bác học.

Nhưng nếu anh ta không thấy trước để cảnh báo về tai họa của bom hạt nhân với nhân loại, thì anh ta chưa phải là một trí thức!”

Một người học đầy mình, có đủ kiến thức đông tây kim cổ nhưng nếu thiếu trách nhiệm với cộng đồng, thiếu đạo đức, vô cảm với nỗi đau đồng loại, thì vẫn chưa phải là một trí thức.

Sự quan trọng của trí thức trước hết bởi họ vốn là những người luôn có óc hoài nghi. Người bình thường, những kẻ ít học, có thể yên phận tin theo số đông, nhưng một trí thức thì không, hoặc không dễ tin theo. Thậm chí anh ta sẵn sàng chống lại tất cả để bảo vệ quan điểm, chính kiến của mình.

Nhưng giá trị đích thực, giá trị lớn nhất của trí thức lại ở chính cái phẩm chất ấy?

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

XỬ BẮN CHÚA JESUS, ngày 7/8/1936 tại Tây ban nha

 


Đó là tên gọi của bức ảnh và sự kiện nổi tiếng đi kèm với cuộc nội chiến Tây Ban Nha, xảy ra trong giai đoạn mà chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa xã hội cánh tả cùng nổi lên tại Châu Âu sau Thế Chiến Thứ Nhất. Trong ảnh, các thanh niên Cộng Sản Tây Ban Nha làm theo chỉ thị của Các Mác nhằm "xóa bỏ ảnh hưởng của tôn giáo". Những kẻ này đã giương súng nhắm bắn vào tượng Thánh Tâm Chúa Jesus ở Đồi Thiên Thần, Getafe, Tây ban Nha. Sau đó chúng đã phá hủy các đền đài và tượng đá xung quanh tượng Chúa.

Quân Cộng Sản Tây Ban Nha được sự hỗ trợ của Liên Xô, đã tiến hành chiến tranh tổng lực trên toàn Tây Ban Nha và nắm được hầu hết quốc gia này. Trong thời gian nắm quyền, chúng đã thi hành triệt để các chính sách như tịch thu ruộng đất tư và tài sản của Giáo Hội, lọai bỏ ảnh hưởng của nhà thờ khỏi trường học, kèm theo đó là tuyên truyền dối trá tạo sự thù ghét và kêu gọi thủ tiêu những người Kitô giáo. Trong thời gian này, quân Cộng Sản đã giết chết 40 ngàn người, trong đó có hơn 6800 linh mục và tu sĩ. Hơn 10 ngàn người bị giết vì không chịu bỏ đạo.

Sau này, Tây Ban Nha đã loại bỏ được nạn cộng sản khỏi quốc gia của mình, tái thiết lập địa vị của giáo hội Công Giáo, tu sửa lại tượng đài Chúa Kitô cùng nhiều công trình tôn giáo khác đã bị phá hoại trong cuộc chiến. Năm 2007, tại Vatican, Giáo Hoàng đã tuyên thánh cho hơn 400 vị tử đạo trong cuộc nội chiến Quốc - Cộng Tây Ban Nha, khiến đây trở thành lần tuyên thánh lớn nhất từ trước đến giờ. Quanh tượng Chúa năm xưa được xây thêm một nhà thờ lớn, một số tượng đá bị đập vỡ và các lỗ đạn trên thân tượng Chúa vẫn có thể được nhìn thấy.

(Hoài Thạch Sơn)

Thứ Tư, 30 tháng 6, 2021

Câu chuyện lịch sử ít ai biết : Hòa ươc Thiên Tân 1885?

(https://www.facebook.com/groups/373876840199844/permalink/839681846952672/)

 


Có đến 90% khả năng là bạn chưa biết gì về câu chuyện lịch sử này. Bởi vì...những bậc trí thức, học giả, những nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở VN cũng không biết khi trả lời câu hỏi:

"Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc vào Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Quốc là… thực dân Pháp.

Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19 này của Trung Quốc?

Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác mình là trung tâm của thế giới.

Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm miền Bắc.

Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu, và nhằm bảo vệ mô hình thiên triều - chư hầu ngàn năm. Pháp thì quyết lấy nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử, dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm 1883.

Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu.

Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam.

Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.

Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào hệ thống thiên triều - chư hầu, thì đến khi mất chư hầu Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều - chư hầu của họ bị đánh tận gốc rễ.

Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu trúc thiên triều - chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10 năm sau đó.

XIN ĐỪNG NHÂN DANH QUÁ KHỨ. TƯỢNG ĐÀI KHÔNG CHE KHUẤT MỌI THỨ

 Nguyen Ngoc Chu

 


Về tượng đài, đã nhiều người lên tiếng, nhưng không thuyên giảm mà còn gia tăng. Gần đây nổi cộm là tượng đài lưu niệm hành trình cứu nước của ông Hun Sen trị giá 300 tỷ ở Bình Phước đã khánh thành, tượng đài Cụ Hồ ở Phú Quốc 353 tỷ đồng dự kiến khởi công ngày 02-9-2021, và tượng đài tập kết ở Thanh Hoá trị giá 255 tỷ đồng vừa được lựa chọn mẫu xây dựng.

1. TƯỢNG ĐÀI THÚC ĐẨY THAM NHŨNG VÀ LÃNG PHÍ

Các dự án tiền tỷ của nhà nước không có dự án nào đúng giá. Ít thì nâng giá 5% - 10%. Thông thường thì nâng giá từ 20% – 100%. Nhiều thì nâng giá từ 5 lần đến hàng chục hàng trăm lần giá trị thực. Cụ thể như giá thiết bị y tế chống Covid -19 được năng 5-7 lần. Giá dự án AVG năng khoảng 18 lần. Giá đường sắt Cát Linh – Hà Đông tăng khoảng 3-5 lần so với giá các nước. Động cơ của việc nâng giá là để tham nhũng.

Cho nên, các dự án tượng đài nêu trên đã và sẽ góp phần thúc đẩy gia tăng tham nhũng. Đó là điều chắc chắn. Ngoài tham nhũng ra còn lãng phí. Lãng phí do trình độ quản lý kém. Lãng phí do không có trách nhiệm vì đó là sở hữu toàn dân.

2. BIẾT KHÓ NHƯNG VẪN PHẢI NÓI

1/. Về tượng đài Tập kết

Ngày 29/10/2019 tại Cao Lãnh Đồng Tháp khánh thành tượng đài Tập kết năm 1954, trên diện tích 12 000 m2 trị giá 49 tỷ đồng (https://nhandan.vn/.../khanh-thanh-tuong-dai-tap-ket-nam...).

Ngày 28/2/2021 tại TPHCM Phó thủ tướng Trương Hoà Bình họp với lãnh đạo thanh Hoá và các bộ nghành liên quan về khởi công xây dựng Tượng đài Tập kết vào quý III năm 2021. Khu tượng đài có giá trị xây dựng 255 tỷ đồng, trên khuôn viên đất 38 000 m2 (http://truonghoabinh.chinhphu.vn/.../quy-iii2021-khoi...).

Điểm xuống tàu tập kết không chỉ ở Cao Lãnh (Đồng Tháp) mà còn ở Sông Đốc (Cà Mau), Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà Rịa Vũng Tàu), và ở các tỉnh khác ở Miền Trung. Điểm Tập kết không chỉ ở Thanh Hoá mà còn ở Nghệ An sau đó là các tỉnh khác. Câu hỏi hiển nhiên là sẽ còn bao nhiêu Tượng đài Tập kết nữa?

Chưa nói đến gần 1 triệu đồng bào Miền Bắc đã di chuyển vào Miền Nam cùng vào dịp đó sau Hiệp định Genevo 1954? Không có lẽ đó không phải là lịch sử của dân tộc?

Cho nên, nếu đã trót quyết định thì chỉ nên làm TƯỢNG ĐÀI GHI NHỚ. TƯỢNG ĐÀI GHI NHỚ chỉ cần không quá 1/100 của kinh phí 255 tỷ là 2,5 tỷ và chỉ cần không quá 1/1000 phần diện tích đất là 38 m2. Không nói đến tiền từ ngân sách cũng là tiền thuế của dân, nên tiêu pha dễ dãi - thì đất đai là sở hữu toàn dân nên mới dễ vung tay kẻ chỉ trên bản đồ. Nếu phải mua 38 000 m2 đất ở Sầm Sơn thì giá bao nhiêu?

Không muốn nhắc lại vì sao phải Tập kết. Cũng không muốn nhắc đến nỗi đau tại sao hai người con của một bà mẹ lại cầm súng bắn nhau từ hai chiến tuyến. Đã có quá nhiều đau thương từ những nghịch lý. Đau thương không của chỉ một gia đình mà của nhiều chục triệu gia đình. Đau thương không chỉ 1 năm mà nhiều chục năm của cả một dân tộc.Dựng tượng đài to lớn chỉ càng gọi về những đau thương đáng phải quên đi của một chương trong lịch sử dân tộc. Không quên, nhưng càng không nên gợi lại. Như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: "triệu người vui nhưng có triệu người buồn". Các đời sau tự khắc biết phải làm gì.

2/. Về tượng đài Cụ Hồ ở Phú Quốc

Thứ Ba, 15 tháng 6, 2021

CHUYỆN PHIẾM VỚI MỘT ANH XE ÔM CÔNG NGHỆ ĐÃ CÓ BẰNG ĐẠI HỌC

 

Sưu tầm (Ghi lại câu chuyện của một bác lớn tuổi và một cậu xe ôm công nghệ tốt nghiệp đại học)

Một bác lớn tuổi bực mình với một cậu Grab Biker:

- Sao tao đợi mày ở đây đến 20 phút mà mày cứ nói đến rồi là sao?

- Dạ, cháu tưởng số 2 Đồng Khởi là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn nên cháu đứng đó đợi...

- Khổ quá... Mày không biết xem số à?

- Cháu có xem, nhưng chỗ Nhà thờ không có số. Cháu nghĩ số 2 là đầu đường nên chờ mãi. Đang tính báo “Hủy” thì bác gọi lại...

- Mày học hành sao mà đầu đường, cuối đường không biết?

- Dạ, cháu có đi học chứ. Cháu mới tốt nghiệp Đại học Luật bác ạ. Nhưng quê ở Tây Ninh. Giờ tốt nghiệp, xin việc hoài không được, phải chạy Grab kiếm cơm. Bác thông cảm . . .

- Thôi được, chạy đi. Tao dạy mày một lần cho biết nhé. Cái đó gọi là Kiến thức phổ thông, nhưng tao biết gần như 100% người Việt ở Việt Nam không biết. Từ xếp lớn đến thằng chạy xe ôm như mày. Vì có học đâu. 100 anh chạy xe ôm đều không biết trừ những anh tao nói thì biết thôi. Nhớ nhé:

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

81 NGÀY ĐÊM QUẢNG TRỊ...

 ( FB Phan Trí Đỉnh )


 

Trích một chút trong Hồi ức lịch sử - Tướng Cao Văn Khánh.

...”Bước ngoặt chiến trường thật bất ngờ và khốc liệt. Nhằm tạo sức ép chính trị trên bàn đàm phán Paris, các chỉ huy mặt trận Quảng Trị được lệnh phải tiến công liên tục dưới mưa bom đạn pháo và B-52 rải thảm bất chấp mọi nguyên tắc chiến thuật. Những tính toán chiến lược ban đầu bị chệch hướng, dẫn đến giai đoạn hai của chiến dịch (28 tháng 6 đến 15 tháng 9 năm 1972) đẫm máu với thương vong cao nhất trong lịch sử chiến tranh của Quân đội Nhân dân Việt Nam.”

...”Sự căng thẳng không chỉ diễn ra trên chiến trường mà ngay trong Nhà Rồng-Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội. Thiếu tướng Chu Phác, nguyên bí thư của tướng Vũ kể lúc này ở Bộ có cuộc họp rất quan trọng, tại toà nhà 28 Cửa Đông, trong thành. Dự họp gồm các tướng lĩnh của Bộ, các Tư lệnh quân chủng, binh chủng, Giám đốc học viện quân sự, chính trị và Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân 1. Cấp phó, người đi thay, thư kí, văn phòng...đều không được dự. Lính Trung đoàn 144 gác hai vòng. Vệ sỹ, công vụ không được đến gần. Cửa phòng họp đóng kín mít.

Cuộc họp mới được nửa tiếng đồng hồ, bỗng cửa mở toang. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ cắp cặp đi ra, mặt đỏ gay, nói oang oang:

Tôi xin không họp, họp như vậy chỉ mất thời giờ vô ích!

Tôi nói đây không phải là nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng không phải nói Quân ủy Trung ương. Điều tôi quan tâm đến là máu xương chiến sỹ...

Nói xong, ông lảo đảo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp hai tay đỡ Tướng Vũ và gọi quân y:” Đưa anh Vũ sang phòng bên nghỉ ngơi đo huyết áp, xong dẫn anh về họp”.

Theo chỉ thị của Tướng Giáp, sáng hôm sau Bộ Tổng tham mưu tiếp tục chủ trì cuộc họp để bàn tổ chức thực hiện cụ thể. Có vị tướng đứng lên nhìn về phía Tướng Vũ phát biểu một câu gì đó. Vương Thừa Vũ lập tức đúng lên nói to: “Đánh như thế chỉ tốn máu xương của chiến sỹ”. Dừng một chút, ông nói gay gắt hơn: “Đây không phải là chuyện tranh luận ai thắng ai thua, mà là chuyện xương máu của chiến sỹ, chuyện vận mệnh của Tổ Quốc”. Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng mời Tướng Vũ ngồi, nói:” Anh yên tâm, đánh thế nào còn có tôi, có cấp trên nữa”.

Cuộc họp căng thẳng nên huyết áp Tướng Vũ và một vài người nữa lại lên cao, phải sang phòng cấp cứu.

Tướng Vương Thừa Vũ là người được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ định phụ trách “Tổ nghiên cứu” bàn cách đánh Quảng Trị. Ông có hai con đi bộ đội hy sinh, trong đó con cả, thiếu uý thuộc E232, đã tử nạn ngày 21 tháng 3 năm 1972 ngay tại Thành cổ Quảng Trị.”

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

Israel và Palestin là cái gì?

 




Israel là quốc gia của người Do Thái, giống như nước Campuchia của người Khmer í mà. Người Do Thái đã sống ở đây từ hơn 3.000 năm trước cơ. Đầu TK7 người Ả Rập đến chiếm đóng, từ đó người Do Thái gọi họ là Palestine. Dần dà, Palestine trở thành tên của vùng đất này. Xung đột tôn giáo dữ dằn khiến người Do Thái bỏ béng quê cha đất tổ, lưu vong tung tóe khắp nơi, nhiều nhất là châu Âu. Cuối TK19 phong trào phục quốc ra đời, người Do Thái lần lượt trở về Palestine mua đất, lập các khu định cư. Sau Thế chiến 2, nhờ sự vận động tích cực và tiền bạc dồi dào của các đại gia Do Thái, năm 1947 Liên Hợp Quốc (LHQ) xẻo 1 nửa lãnh thổ Palestine cho người Do Thái, riêng TP Jerusalem thì do LHQ quản lý. Dân Palestine phẫn nộ vì đây đã là quê cha đất tổ của họ từ 1.400 năm cơ mà. Năm 1948 nước Israel “tuyên ngôn độc lập”, 30 phút sau Mỹ tuyên bố công nhận, hôm sau liên minh Ai Cập, Jordan, Syria, Iraq và Li Băng xúm vào uýnh. Người Do Thái luống cuống tự vệ rồi mãnh liệt phản công, đánh bật hết người Palestine ra khỏi vùng đất mà LHQ giành cho họ. Từ đó dân Palestine cắm lều lưu vong vất vưởng ở các nước xung quanh. Năm 1967 Liên Xô xúi liên minh Ả Rập phục thù. Sau 6 ngày giao tranh, Israel thắng, chiếm thêm mấy vùng đất rộng lớn của các nước láng giềng và lấy luôn Jerusalem làm thủ đô. LHQ hỡi ôi nhưng ứ làm gì được. Năm 1973 Liên Xô lại xúi Ai Cập và cộng đồng Ả Rập uýnh. Sau 20 ngày, Israel lại thắng, chiếm thêm nhiều vùng đất nữa.

Jerusalem là cái gì mà LHQ phải quản lý?

Tại ông Thượng Đế oái oăm chọn chỗ này làm đất thánh cho cả 3 tôn giáo khủng: Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Đúng vậy (Amen!), TP Jerusalem chứa chấp cả 3 thánh địa linh thiêng nhất quả đất: Đền thờ Mount của Do Thái giáo, Nhà thờ Mộ Thánh Chúa của Kitô giáo và Nhà thờ Al-Aqsa của Hồi giáo. Do Thái giáo ra đời tại đây vào cỡ năm 1.500 TCN, coi đền thờ Mount là nơi linh thiêng nhất, nay còn 1 đoạn tường gọi là Bức tường Than thở. Mãi 2.000 năm sau, tức là giữa TK1 những người ly khai Do Thái giáo lập ra Ki-tô giáo, coi nhà thờ Mộ Thánh Chúa, nơi chôn thi hài Chúa Jesus là nơi linh thiêng nhất. Hồi giáo xuất hiện đầu TK7, coi nhà thờ Al-Aqsa là thánh địa linh thiêng, vì nhà tiên tri Muhammad bước lên mái vòm, nhún 1 phát bay lên thiên đường. Ba thánh địa này chen chúc trong 1 diện tích chật chội, khiến không khí nơi đây đặc sánh mùi tôn giáo, hễ 1 tí là tranh chấp và uýnh nhau chí mạng.

Năm 1948 LHQ chia đôi TP Jerusalem: Jordan kiểm soát vùng phía Đông, Israel kiểm soát phần phía Tây. Nghiệt 1 nỗi, thành cổ Jerusalem và cả 3 thánh địa linh thiêng đều nằm ở Đông Jerusalem. Năm 1967 Israel chiếm được Đông Jerusalem, từ đó kiểm soát toàn bộ TP này. Tuy nhiên, người Palestine vẫn là đại đa số ở Đông Jerusalem và luôn coi nơi đây là thủ đô của Nhà nước Palestine trong tương lai.

Hamas là cái gì?

Là viết tắt của Phong trào kháng chiến Hồi giáo của người Palestine, ra đời năm 1987 với mục tiêu đấu tranh vũ trang nhằm giành lại vùng đất mà LHQ đã chia cho năm 1947.

Sao bi chừ uýnh nhau?

Gần đây, người Palestine điên tiết vì khi lễ Ramadan bắt đầu thì chính quyền Israel ra lệnh đóng cửa 1 quảng trưởng nổi tiếng của Hồi giáo, đồng thời trục xuất 7 gia đình Palestine ra khỏi Đông Jerusalem. Mức độ nhạy cảm ở TP này còn vì 2 sự kiện đó trúng vào Đêm Quyền lực của người Hồi giáo 8-5 và Ngày Jerusalem của người Israel 9-5. Thế mới sinh chuyện.

 

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2021

NHỮNG KỈ LỤC “VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU” CỦA VUA CHÚA PHONG KIẾN VIỆT NAM

 


Không tính thời Hùng Vương huyền sử, trải qua hàng nghìn năm, các triều đại phong kiến Việt đã xác lập những kỷ lục "vô tiền khoáng hậu" liên quan đến ngôi thiên tử.

1. Ở ngôi lâu nhất: Lý Nhân Tông: 56 năm (1072 - 1127), Lê Hiển Tông: 47 năm (1740 - 1786), Lê Thánh Tông Tư Thành: 37 năm (1460 - 1496);

2. Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày (1006), Dục Đức (Nguyễn Cung Tông): 3 ngày (1883).

3. Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông lúc 1 tuổi (1442); Mạc Mậu Hợp lúc 2 tuổi (1562); Lý Cao Tông lúc 3 tuổi; Lý Anh Tông cũng 3 tuổi; Lý Chiêu Hoàng lúc 6 tuổi (1224);

4. Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông, khi 50 tuổi (1370).

5. Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321 - 1394).

Nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 - 1613)

6. Yểu mệnh nhất: Lê Gia Tông Duy Khoái 15 tuổi (1661 - 1675); Lê Huyền Tông Duy Vũ 17 tuổi (1654-1671).

Nếu tính cả vua không chính thống thì Lê Quang Trị bị giết khi 7 tuổi (1509-1516).

7. Sống nhiều năm nhất ở nước ngoài trong thời gian làm vua: Bảo Đại.

8. Vua có tôn hiệu dài nhất: Lý Thái Tổ (được truy tôn hiệu dài 52 chữ).

9. Vua có niên hiệu sử dụng lâu nhất: Lê Hiển Tông - niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm (1740-1786).

10. Nữ vương đầu tiên: Trưng Nữ Vương (Trưng Trắc) vì chỉ xưng vương từ năm 40-43;

11. Nữ hoàng duy nhất: Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1224 - 1225), vợ vua Trần Thái Tông Cảnh (1226 - 1258).

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021

Biên niên sử bỏ túi về xung đột Israel – Palestine: Từ góc nhìn công pháp quốc tế

 


Nguyễn Quốc Tấn Trung

Cuộc tranh chấp điển hình nhất, dai dẳng nhất về chủ quyền lãnh thổ

Lịch sử xung đột giữa người Israel và người Palestine có lẽ là một câu chuyện có nhiều góc nhìn phân cực còn hơn cả chiến tranh Việt Nam, theo nhận định riêng của người viết. Cách một người hiểu về xung đột này hoàn toàn lệ thuộc vào việc người đó có cảm tình với người Do Thái hay với thế giới Arab.

Tranh chấp Israel – Palestine được xem là cuộc tranh chấp điển hình nhất, nhưng dai dẳng nhất liên quan đến chủ quyền quốc gia, biên giới, xung đột vũ trang và phi thực dân hóa… trong quan hệ quốc tế. Trong bài viết này, người viết hy vọng cung cấp được một lượng thông tin vừa phải, được trung tính hóa qua lăng kính pháp luật quốc tế, nhằm góp phần giúp các cuộc thảo luận tại Việt Nam về chủ đề này mang tính xây dựng hơn.

Người viết nhận thức được rằng các yếu tố đồng minh và địa chính trị, như việc Israel là bạn “vào sinh ra tử” của Hoa Kỳ tại Trung Đông, và việc Palestine là anh em “giọt máu đào” của cả Liên Hiệp Arab (Arab League) lẫn Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (Islamic Cooperation Organization – ICO) hùng mạnh là lý do quan trọng khiến cho xung đột giữa hai thực thể kéo dài đến tận ngày nay.

Tuy nhiên, chỉ biết cúi đầu chấp nhận trước tư duy “cá lớn nuốt cá bé” chưa bao giờ là cách mà lịch sử, pháp luật và sự tiến bộ của nhân loại chuyển động, tiến hóa. Có hiểu biết và có nhìn nhận sâu sắc về sự kiện này thông qua lăng kính pháp lý mới có thể giúp người Việt Nam nhìn nhận nghiêm túc hơn về công lý quốc tế và một trật tự pháp lý quốc tế bình đẳng.

1. Israel và Palestine có danh nghĩa gì trong pháp luật quốc tế?

Có thể sẽ có học giả mang hai học thuyết là thuyết cấu thành (constitutive theory) và thuyết tuyên bố (declaratory theory) để bàn về tính chính danh và sự tồn tại của một quốc gia.

Thuyết cấu thành cho rằng một thực thể chính trị chỉ có thể được xem là một quốc gia nếu nó được các quốc gia khác công nhận. Tuy nhiên, thuyết này đã quá lỗi thời và thậm chí có tính phản động, vì nó từng tạo ra sân chơi độc quyền giữa các quốc gia tự nhận mình là văn minh. Họ thường xem các quốc gia khác là chưa đủ phát triển để có thể tự quyết định vận mệnh của mình, từ đó tạo nên nền tảng của chủ nghĩa thực dân.

Thuyết tuyên bố lại cho rằng một thực thể chính trị đương nhiên phải được công nhận là một quốc gia nếu nó đã đạt đủ các quy chuẩn khách quan theo pháp luật quốc tế. Đây là học thuyết đã và đang được đại đa số học giả quốc tế ủng hộ.

Vậy tiêu chuẩn khách quan đó là gì?

Có bốn yếu tố cơ bản để đánh giá một thực thể chính trị đã đến ngưỡng quốc gia (state) trong pháp luật quốc tế hay chưa, xuất phát từ Công ước Montevideo (được ký kết và có hiệu lực từ năm 1933 giữa một số quốc gia châu Mỹ). Ngày nay, bốn nguyên tắc Montevideo đã được xem là tập quán pháp quốc tế và được thừa nhận rộng rãi.

Bốn nguyên tắc này bao gồm:

Có dân cư xác định;

Có lãnh thổ xác định;

Có chính quyền đại diện, quản lý;

Có khả năng tham gia và bảo đảm các nghĩa vụ quốc tế.

Như vậy, trong trường hợp của Israel, nó đương nhiên được xem là một quốc gia theo pháp luật quốc tế mà không còn gì để bàn cãi. Tuy nhiên, nếu buộc phải nói thêm về sự thừa nhận quốc tế, có thể ghi nhận thêm rằng Israel là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1949 và được hầu hết các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc công nhận.

Hiển nhiên, vẫn có trên dưới 30 quốc gia Arab và Hồi giáo, điển hình như Iran, không công nhận sự tồn tại của Israel. Họ công khai cho rằng quét sạch Israel và người Do Thái ra khỏi bản đồ thế giới là nghĩa vụ tôn giáo của mình.

Riêng về Palestine, câu chuyện có hơi phức tạp hơn.

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ ÍT AI BIẾT

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ ÍT AI BIẾT

Có đến 90% là bạn chưa biết gì về câu chuyện lịch sử này. Bởi vì... ngay cả những bậc trí thức, học giả, những nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở VN cũng không biết khi trả lời câu hỏi: "Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Hoa vào Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Hoa? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?”

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sĩ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Hoa là… thực dân Pháp. (Nói rõ hơn: đó là học giả Trần Trọng Kim, webmaster ghi thêm)

Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19 này của Trung Hoa?

Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác mình là trung tâm của thế giới.

Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm miền Bắc.

Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu, và nhằm bảo vệ mô hình thiên triều - chư hầu ngàn năm. Pháp thì quyết lấy nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử, dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm 1883.

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

ISRAEL, PALESTINE VÀ JERUSALEM

 Dũng Phan

 


Câu chuyện hôm nay được viết lại từ sự kiện hôm nay, khi Israel – Palestine đối diện khả năng bùng nổ chiến tranh toàn diện. Bắt đầu bằng việc chính quyền Israel đuổi 6 gia đình Palestine sinh sống tại khu vực Sheikh Jarrah thuộc Đông Jerusalem, thổi bùng lên ngọn lửa giận dữ của người Palestine. Cảnh sát được gọi đến và đụng độ đẫm máu xảy ra. Hamas, tổ chức vũ trang của người Palestine ở Dải Gaza tuyên bố đứng về phía người dân Palestine bị lấy đất. Cùng thời điểm đó, hàng chục ngàn người Palestine biểu tình bên ngoài đền thờ Al-Aqsa, địa điểm linh thiêng thứ ba của người Hồi giáo. Đền thờ nằm tại khu thành cổ Jerusalem và sát với Bức tường than khóc - địa điểm linh thiêng bậc nhất với người theo Do Thái giáo. Chưa hết, hàng ngàn người Do Thái cũng đổ về khu thành cổ để kỷ niệm ngày Israel chiếm được Đông Jerusalem.

Tính từ khuya ngày 10 tháng 05, đã có hơn 1.000 quả rốc két được bắn về phía Israel. Lá chắn bảo vệ Israel mang tên “vòm sắt” đã được kích hoạt với một hình ảnh đẹp kinh khủng trên bầu trời, nhưng là một hình ảnh đẹp đáng sợ của chiến tranh. Quân đội Israel cũng không để yên, đáp trả bằng hàng trăm cuộc không kích.

Câu hỏi:

-Tại sao lại có chuyện thù hận này?

-Tại sao từ ngày chúng ta biết đọc tin tức và đọc thời sự, đã luôn nghe về việc này?

-Và tại sao Jerusalem lại quan trọng đến thế?

-Tại sao họ lại cùng giành nhau một địa điểm linh thiêng?

“Hãy đi tìm lịch sử, bởi chỉ có lịch sử mới đi kể cho bạn về nguồn gốc của vấn đề”.

//

1. Tôn giáo – sự ra đời của mâu thuẫn

Thiên chúa giáo, Hồi giáo, vì sao mà sinh ra? Lý do vì sao xuất hiện các cuộc thập tự chinh? Lý do vì sao Israel lại là cái gai trong mắt của cộng đồng Ả Rập.

Đầu tiên là một sự thật gây bất ngờ cho tất cả: Do Thái giáo, Kito giáo (Thiên Chúa Giáo theo cách gọi của tiếng Việt) và Hồi giáo – 3 tôn giáo đang đánh nhau chí chóe ở khu vực Trung Đông ... đều có cùng chung một gốc. Đấy được gọi là các tôn giáo độc thần mà nguồn gốc chung của chúng đến từ một nhân vật sống vào đầu thiên niên kỷ 2 TCN (tức cách đây 4000 năm), gọi là Abraham.

Và địa điểm mà người cha ấy sinh ra các tôn giáo đó chính là chỗ bom đạn đang nổ ầm ầm: Trung Đông và Jerusalem.

3000 năm về trước, tộc người Do Thái đến định cư ở phía tây bán đảo Ả Rập. Vị vua của người Do Thái tên là vua David (người đã đánh bại tên khổng lồ Goliath) mà nhiều người vẫn dùng thành ngữ. Thủ đô và trung tâm của người Do Thái bạn có biết là tên gì không? Nó tên là … Jerusalem. Và trên quê hương với những vùng đất được định hình này, Do Thái giáo đã được sinh ra từ gốc khởi nguồn của Abraham.

1/ Do Thái giáo của người Israel đã xuất hiện từ rất lâu, và còn xuất hiện đầu tiên.

2/ Vùng đất mà họ đang sinh sống của hôm nay, là nơi mà tổ tiên họ đã ở đó từ 3000 năm trước.

Nắm kỹ được 2 điều đó, chúng ta mới hiểu để đi đến phần sau của câu chuyện.

Người Do Thái lập nước được một thời gian thì bị đô hộ bởi đế quốc Babylon (Iran, Iraq) ngày nay. Sau đó đến lượt đế chế La Mã thống trị họ. Đây là quốc gia mất nước hơn 1000 năm.

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

GIÁO SƯ PHAN ĐÌNH DIỆU (1936-2018): KHÍ PHÁCH & TRÍ TUỆ

 ( Bài của Trương Huy San)

 


"Đã 3 năm rồi kể từ ngày đăng bài này, họ vẫn kiên định đi tìm ánh sáng trong đường hầm cụt.

Đất nước dường như đã cạn kiệt người tử tế, đâu đâu cũng nhung nhúc loài xôi thịt, giả trá, bất lương.

Ngày càng ngộ ra rằng, những người tài năng sinh ra trên xứ sở này đều cô độc. Có lẽ họ đầu thai nhầm dân tộc này rồi"

( Nguyen Nguyen)

 

Sáng nay tôi hỏi 5 bạn sinh trong thập niên 1980s, 3 bạn nói không biết GS Phan Đình Diệu. Tôi buồn nhưng không bất ngờ. Ông là một người mà thế hệ chúng tôi ngưỡng mộ, cả về tài năng và sự chính trực. Có lẽ vì sự chính trực ấy mà ông rất ít khi có mặt trên những bục vinh quang. Nhưng, những đóng góp thầm lặng của ông đặc biệt là trong vai trò đưa công nghệ thông tin vào VN đang ảnh hưởng lên cả những thế hệ không còn biết ông là ai nữa.

GS Phan Đình Diệu là một trong những người đầu tiên gầy dựng ngành khoa học tính toán của miền Bắc (1968). Chiếc máy vi tính đầu tiên, có thể coi là của Đông Nam Á, ra đời năm 1980 [được thiết kế với chip Intel 8080A nên được đặt tên là VT80] là từ phòng thí nghiệm Viện Tin học của ông, bắt đầu từ những hợp tác trước đó với Viện Kỹ thuật Quân sự có sự giúp sức cả về chuyên môn và vật chất của ông André Trương Trọng Thi, người được coi là cha đẻ của máy tính cá nhân.

Theo tiến sỹ Vũ Duy Mẫn: “Năm 1981, sau khi lắp ráp thành công máy vi tính VT81 và cài đặt được ngôn ngữ lập trình Basic, Viện quyết định thử nghiệm đưa máy vi tính ứng dụng vào quản lý xí nghiệp cỡ nhỏ và vừa ở Xí nghiệp máy may Sinco”.

Nhưng, cho dù có nhiều nỗ lực, ngành công nghiệp sản xuất máy tính chỉ dừng lại ở đó. Tin học là một ngành không thể phát triển trong một quốc gia tự đóng cửa về chính trị và bị cô lập về thương mại với thế giới bên ngoài. Rất tiếc là khi tình hình trong nước bắt đầu cởi mở hơn thì GS Nguyễn Văn Hiệu (người thay giáo sư Trần Đại Nghĩa, làm Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam) lại có những quyết định phi khoa học. Năm 1993, ông Hiệu loại GS Phan Đình Diệu khi ngành tin học Việt Nam cần một người lãnh đạo có tâm và có tầm nhất.

GS Hiệu nhận chức năm 45 tuổi. Ông có mọi ưu đãi của Chế độ, từ kinh phí nghiên cứu tới quyền hạn. Nắm Viện, ông Hiệu kêu gọi “các anh các chị hãy tự cứu mình”. Các công ty được thành lập, Viện khoa học Việt Nam nhanh chóng trở thành một nơi “nửa hàn lâm, nửa chợ trời”[theo TS Giang Công Thế]. Hàng nghìn cán bộ tài năng trôi giạt khắp nơi. Nền tin học Việt Nam chuyển một cách dứt khoát sang nghề… buôn máy tính.

Dù GS Phan Đình Diệu là người viết đề cương thành lập viện Công nghệ thông tin theo mô hình mới và khi bỏ phiếu thăm dò, ông nhận được tín nhiệm của đa số tuyệt đối, GS Nguyễn Văn Hiệu vẫn chọn một người có số phiếu thấp hơn vì lý do “biết làm kinh tế”. GS Phan Đình Diệu tuyên bố từ chức Viện phó Viện Khoa học Việt Nam và ra khỏi biên chế, những chuyên gia trẻ hết lòng vì khoa học như Nguyễn Chí Công, Vũ Duy Mẫn, Lê Hải Khôi, Giang Công Thế… bắt đầu phiêu bạt.

Cho dù vậy, theo GS Chu Hảo - thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ thời kỳ internet được đưa vào VN - “GS Phan Đình Diệu vẫn là linh hồn của các chính sách phát triển công nghệ thông tin của nước ta”. Ông là Chủ tịch hội Tin học và là Phó Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia phát triển Công nghệ Thông tin cho tới năm 1998.

Nếu như, GS Nguyễn Văn Hiệu nổi tiếng là một người biết sử dụng khoa học để làm chính trị và leo lên tới các đỉnh cao danh vọng thì GS Phan Đình Diệu lại là một con người mà ngay cả trong chính trị cũng chỉ tham gia với tinh thần khoa học.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

LỊCH SỬ VÀ PHI LỊCH SỬ

 Chu Mộng Long

 Tôi không còn nhớ ở trang nào, sách nào, nhưng chắc chắn từ biện chứng lịch sử của K. Marx, có đoạn viết về lịch sử và phi lịch sử. Lịch sử không đơn thuần là sự vận động của thời gian. Lịch sử phải là sự thay đổi của sự kiện, và sự thay đổi sự kiện không đơn thuần là sự kiện này tiếp liền sự kiện kia. Sự thay đổi về chất trong chiều hướng tiến hoá hay phát triển mới đảm bảo tính lịch sử đích thực của một dân tộc.

Khi các sự kiện tiếp liền nhau nhưng bản chất không thay đổi, tức lặp lại hoặc thậm chí quay vòng theo chu kỳ, dân tộc đó vẫn nằm trong trạng thái phi lịch sử (nonhistorical).

Những dân tộc suốt nhiều ngàn năm giỏi đánh nhau và tự hào về dòng máu anh hùng, nhưng các cuộc đánh nhau đó đơn thuần chỉ là tranh chấp quyền lực (không phân biệt chống xâm lăng và tranh chấp nội bộ), còn hình thái xã hội từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng vẫn không thay đổi hoặc thay đổi cái vỏ giả tạo, dân tộc đó vẫn là dân tộc phi lịch sử.

Rốt cuộc, cái bộ mặt lịch sử không nằm ở những cuộc chiến tranh mà nằm ở kiến tạo đời sống văn hoá xã hội. Ở phương Tây, chỉ cần nhìn vào di sản văn hoá nghệ thuật đủ thấy tính lịch sử của các dân tộc đó. Có thể có những giai đoạn trì trệ kéo dài, nhưng đã xếp vào "quốc gia phát triển" thì gần như kiến tạo văn hoá xã hội của quốc gia đó không đứng yên mà vận động rõ nét theo từng giai đoạn và mỗi giai đoạn mang một phong cách riêng. Nếu xét cả châu Âu thì có Phong cách Hy Lạp, Phong cách La Mã, Phong cách Phục hưng,... cụ thể ra thì nhiều tên gọi khác nhau theo loại hình nghệ thuật: Phong cách Baroque, Rococo, Romanesque, Gothic, Ấn tượng, Lãng mạn, Hiện thực, Siêu thực, Lập thể...

Chính các phong cách nghệ thuật làm cho lịch sử không bị xoá mờ và lãng quên. Người đời sau chỉ cần nhìn vào sự hiện diện của nghệ thuật là có thể hình dung ra sự phân kỳ và vận động của từng giai đoạn lịch sử. Không ngẫu nhiên mà nhiều dân tộc biết tạo nên những kỳ quan đánh dấu lịch sử của dân tộc mình, và các kỳ quan ấy thành biểu tượng của thời đại: Kim Tự Tháp Ai Cập, các ngôi đền cổ Hindu của Ấn Độ, Angkor Wat của Cambot,... Từ đó, để gọi là phát triển, những cái ra đời sau phải không lặp lại cái đã có. Tôi chỉ lấy một hiện tượng Tháp Eiffel để chứng minh người Pháp ý thức sâu sắc nghệ thuật như một biểu tượng cho sự vận động của từng thời đại. Nước Pháp từng có tất cả các phong cách để làm nên tính lịch sử điển hình và rực rỡ của châu Âu, nhưng họ không rơi vào cái cối xay ăn mày dĩ vãng. Sau cuộc cách mạng Pháp, Eiffel ra đời, đánh dấu cho nền văn minh công nghiệp hiện đại mà không lặp lại bất cứ một phong cách nào đã có trong cái vốn sở hữu đồ sộ của người Pháp.

Thử liếc nhìn sang Mỹ. Lẽ ra sau khi giải phóng khỏi ách thuộc địa, những người con da trắng cầm quyền sẽ kiến tạo một nền văn hoá trên nền cố quốc Anh của họ thì lại có hơn 100 triết gia kiến tạo nên một nền văn hoá mới hẳn mang thương hiệu Mỹ, bỏ xa bà mẹ châu Âu già cỗi từng nuôi dưỡng họ.

J. Derrida xem lịch sử nằm trong biện chứng huỷ-tạo. Những cuộc huỷ-tạo liên tục làm cho tinh thần con người phát triển, từ bóng tối vươn ra ánh sáng, từ khuôn mẫu thành đa dạng. Muốn biết một dân tộc có lịch sử hay không thì nhìn vào các di sản văn hoá của nó, và từ trong di sản, hãy xem tinh thần của nó đổi thay đến đâu.

Tôi thách bạn nào đi trên đất nước tự hào bốn, năm nghìn năm văn hiến mà nhận diện được các thời đại lịch sử, trừ phi đọc được cái chữ ghi trên đó. Mà chữ thì nó siêu lừa. Khi hình thái văn hoá xã hội không thay đổi thì cái chữ tỏ ra thay đổi gọi là tiến bộ, kể cả đánh tráo cái mới ra đời thành cái cổ kính để tôn vinh. Chẳng hạn, đền Hùng ở Phú Thọ hay lăng Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh, kiến trúc hoàn toàn ở hình thái trung cổ, mới xây dựng thời Khải Định (từ năm 1917), nhưng nhiều khoa học gia lại nhầm tưởng là có từ thời cổ đại và ra sức khảo cổ để chứng minh điều... không có thật.

Nếu chỉ dựa vào cái chữ thì theo tôi, ở dân tộc này, từ kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc đến văn chương cũng chỉ có hai thời đại nếu phân kỳ một cách nghiêm ngặt: thời đại chữ Hán và thời đại chữ Latin. Đó là chưa nói, tất cả đều có khuynh hướng hoài cổ, kể cả vọng ngoại và nhập ngoại. Cảm giác chung là không có ranh giới giữa hiện đại và cổ điển (đúng hơn là cổ lỗ), giữa ta và kẻ khác. Không chừng một ngày kia, đi trên đất nước ta mà con cháu nhầm tưởng sống trên quốc gia của kẻ khác, kể cả dân tộc khác nhầm tưởng quốc gia ta là của họ. Đó là chưa nói, sống trên mốc thời gian hiện tại với dòng chảy hướng về tương lai, nhưng con cháu ta không thấy thời gian vận động. Duy trì bản sắc hay con cháu ta phải sống trong cái nấm mồ của những biểu tượng ta không ra ta mà hao hao giống Tàu rồi giống Tây?

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mượn lời ông Tây ví Việt Nam như cô gái đồng trinh bị văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Tôi thì bảo lịch sử dân tộc ta được các kiến trúc sư kiến tạo giống như một bà cụ không có tuổi nhưng có hai thằng chồng. Hơi quái là bà này dạy con cái căm thù cả hai thằng chồng ấy. Căm thù nhưng khi chửi thằng này thì lại quay sang ôm cổ thằng kia. Hậu quả, bà không dạy con cái mình có cội nguồn ở đâu ra, kể cả tự tạo căn cước rõ ràng cho dòng máu của chính bà, và quan trọng hơn, phải thoát khỏi cái "bóng đè" của hai thằng chồng đó để làm nên lịch sử đích thực.

Buồn!

Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2021

Thư của Cụ Chu Đình Xương gởi BCH Trung ương đảng Cộng sản Việt nam - tháng 2/1983

 Phan Trí Đỉnh

 ( Em mạn phép anh Chu Hảo và bạn Chu Quang Bình).

 


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

 

Kính gởi: BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM,

 

Kính thưa các đồng chí,

 Tôi là CHU ĐÌNH XƯƠNG, 70 tuổi, đảng viên kỳ cựu của Đảng ta, về mặt công chức Nhà nước thì đã hưu trí, nhưng về mặt trách nhiệm đảng viên thì không thể hưu trí được, nhất là trước tình trạng khó khăn và bê bối của đất nước hiện nay.

Mới đây, tôi được đọc bài phát biểu ý kiến của đ/c PHẠM HÙNG trước hội nghị tư pháp toàn quốc đăng trên báo Saigon Giải Phóng ngày 15/01/1983, một câu trong đó đã làm tôi quá đau xót, đau xót bến mức mất ăn mất ngủ: “Như các Nghị quyết số 128 và 188 của Hội đồng Bộ trưởng đã nêu lên, tệ tham ô lãng phí trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa còn nghiêm trọng ở hầu hết các ngành, các cấp”.

Trời đất ơi? Nhà nước của chúng ta lại bất lực đến thế kia ư?

Một Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng trực tiếp làm công tác chuyên chính đàn áp mà phải công bố công khai điều đó trên mặt báo chí, là đúng hay là sai, đã làm tôi rất băn khoăn.

Nhưng điều làm tôi khắc khoải hơn cả là nguyên nhân của tình hình nghiệm trọng trên là đâu? Gần một tháng nay tôi lo âu suy nghĩ, sưu tầm và chủ quan thấy rằng mình đã tìm ra nguyên nhân chính xác:

Thủ phạm chính là MAO TRẠCH ĐÔNG và chủ nghĩa MAO.

Tôi xin phép được trình bày ý kiến của mình lên Trung Ương xem xét.

Kinh thân,

Ký tên CHU ĐÌNH XƯƠNG

31 Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội (tháng 2 năm 1983)

 

 

BÀN TAY NHAM HIỂM VÀ TÀN BẠO CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG ĐÃ THÒ SANG VIỆT NAM CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO?

 

I. BẢN CHẤT MAO TRẠCH ĐÔNG

1. Về bản chất của Mao Trạch Đông thì thế giới đã bàn nhiều, rất nhiều rồi và cũng đi đến nhất trí tóm tắt như sau:

a) Mục đích, ý đồ, tham vọng của Mao là: làm bá chủ trước hết ở Trung Quốc, rồi đến Đông Nam Á, rồi ra cả thế giới, ngày nay Đặng Tiểu Bình vẫn đang tiếp tục thực hiện mục đích ấy. Trung quốc tuy rất nghèo, nợ nần quốc tế khá lớn, nhưng vẫn bỏ tiền bỏ của ra nhiều khu vực trên thế giới để phá hoại phong trào cách mạng.

b) Phương tiện, thủ đoạn của y là:

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM ẤN TƯỢNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ TIỀN TỆ VIỆT NAM

 Viêt Cuong , sưu tầm và biên soạn từ ký ức



 

Trong lịch sử tiền tệ từ khi thành lập nước VNDCCH đến CHXHCNVN đã trải qua 6 lần đổi tiền.Những người ở lứa tuổi ngoại ngũ tuần ngày nay ấn tượng nhất, gắn liền với họ nhiều kỷ niệm nhất là đồng tiền phát hành trong lần đổi tiền thứ 3 vào năm 1959 và kết thúc lưu hành vào 2/5/1978.

Những đồng tiền Việt Nam có mệnh giá rất thấp nhưng giá trị lại rất cao và ổn định trong suốt 20 năm lưu hành. Tỷ giá hối đoái của 1 đồng VN = 1,36 Rúp Liên Xô và = 1,2 USD.

Mệnh giá đồng tiền gồm các loại:

*Tiền giấy đợn vị Hào : 1hào, 2 hào, 5 hào.

* Tiền giấy đơn vị Đồng:

1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, đến 1965 có thêm mệnh giá 10 đồng.

* Tiền kim loại đơn vị Xu:

1 xu, 2 xu, 5 xu.

10 xu=1 hào,10 hào =1 đồng.

Đồng tiền có mệnh giá lớn nhất là tờ 10 đ được dân giã gọi vui là tờ Cụ mượt hay tờ Cụ nghiêng(hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh in trên tờ tiền) là tờ tiền rất giá trị trong sinh hoạt của người dân. Thanh niên thời đó mặc áo Popelin trắng, túi áo ngực có tờ Cụ mượt thì trông oách lắm, chẳng khác gì các thiếu gia bây giờ.

Trên tất cả các loại tiền này đều in năm sản xuất là 1958, nhưng thực tế phát hành là 1959 theo sắc lệnh số 15 SL ký ngày 27/2/1959.

Lương cấp bậc của CNVC nhà nước và giá cả hàng hóa đươc tính đến từng xu.

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

Công dân cuối cùng của Liên Xô là ai?



Khi Liên Xô tan rã thành nước Nga và các nước cộng hòa. Có một người Liên Xô không ở trên trái đất, phi công vũ trụ Sergei Krikalev. Nước Nga rơi vào khủng hoảng sau đó, không ai quan tâm đến chuyện trên trời nữa và anh hùng phi công vũ trụ bị rơi vào quên lãng. Chuyện quan trọng của nước Nga những năm 90 là ổ bánh mì chống đói.

Sergei Krikalev cũng trở thành phi hành gia bất đắc dĩ lập kỷ lục thế giới về thời gian dài nhất trên vũ trụ và vật thí nghiệm bất đắc dĩ về khả năng con người sống sót trong không gian. Các nghiên cứu và thí nghiệm khoa học cho rằng cơ thể con người ở trên vũ trụ khoảng 3 tháng trở lên sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến xương, cơ và hệ thống miễn dịch vì vậy tối đa chỉ nên ở 6 tháng. Bức xạ vũ trụ sẽ gây ung thư. Ngoài ra, còn hàng tỉ nguy cơ khác mà con người chưa biết đến.

Đến ngày anh cần phải bay về trái đất thì anh nhận được thông báo “Cái quốc gia Liên Xô đưa anh vào vũ trụ giờ không còn tồn tại nữa. Chúng tôi không có tiền để đưa anh trở về từ trạm vũ trụ Mir ”.

Có một khoang thoát hiểm tương tự ghế phóng của phi công máy bay. Sergei có thể rời trạm Mir nhưng điều đó cũng là sự kết thúc của trạm vũ trụ. Sergei đã không từ bỏ vị trí của mình mặc dù không còn tổ quốc.

Sergei bắt buộc phải ở lại và gọi trạm vũ trụ là nhà .

Nếu Robinson Crusoe, khi một mình lạc trên hoang đảo, có thể phơi nắng, tắm biển, nằm ngắm trời, ngắm đất, vào rừng hái quả, xuống biển bắt cá cho đỡ buồn thì Sergei Krikalev chỉ có một không gian nhỏ hẹp toàn hợp kim để chui rúc. Nếu không có thần kinh thép chắc chắn điên.

Nước Nga rơi vào khủng hoảng siêu lạm phát ở Nga và bán mọi thứ có thể, các công ty nhà nước bị đem bán cho tư nhân, từ ngân hàng cho đến các công ty dầu khí được đem bán với giá rẻ mạt và trạm không gian vũ trụ Mir cũng không phải nằm ngoài ngoại lệ. Trạm không gian vũ trụ Mir thậm chí còn bị bán tống bán tháo vì sợ Sergei trầm cảm hoặc buồn chán lại nhảy vào khoang thoát hiểm nhấn nút bùm một cái thì xong vì vậy các quan chức muốn bán càng sớm càng tốt khi nó vẫn đang hoạt động. Ai có tiền là mua được. Nhật Bản mua một khoang với giá 12 triệu đô la; nước Áo bé tí thấy cơ hội chỉ cần bỏ ra có mấy triệu đô la cũng trở thành quốc gia vũ trụ xuống 7 triệu mua một khoang. Vấn đề là các nước này mua chỉ để làm thương hiệu. Sergei chỉ được cho bay về nhà khi chính phủ Đức trả 24 triệu đô la và cử phi hành gia vũ trụ lên thay thế cho Sergei.

Sergei Krikalev trở về trái đất vào ngày 25 tháng 3 năm 1992 trong bộ đồ bay của phi công vũ trụ vẫn còn viết ký tự CCCP (USSR) thậm chí khi trồi ra khỏi khoang tiếp đất, ông còn cầm lá cờ Liên Xô vẫy vẫy để cho báo chí chụp ảnh như được huấn luyện về tuyên truyền đúng bài bản dưới thời Liên Xô.

Cơ thể tiều tụy, kiệt sức, mặt tái mét, nhợt nhạt như một bóng ma, cần phải có bốn người đỡ ông xuống đất.

Nơi ông hạ cánh, ngoại ô Arkalyk, đã không còn là lãnh thổ của Liên Xô và là một phần của nước cộng hòa Kazakhstan.

Leningrad quê hương của ông đã trở thành St.Petersburg.

Với mức lương phi công du hành vũ trụ vào loại oách thời Liên Xô là 600 rúp, giờ ông chỉ có thể mua một kg xúc xích.

Cũng may sau đó nhờkiến thức, kinh nghiệm quý báu về vũ trụ của ông là thứ không ai thèm để ý ở Nga nhưng là hàng quý hiếm ở phương Tây, ông đã được tuyển mộ cho tàu con thoi của NASA và là người đầu tiên ở trạm không gian vũ trụ quốc tế ISS.

 

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2021

HỆ THỐNG SIÊU QUYỀN LỰC TẠI HOA KỲ

 HỆ THỐNG SIÊU QUYỀN LỰC TẠI HOA KỲ

Tác giả: Lê Quốc

* .

Lời mở đầu: BÀI BÁO NÀY LÀ CỦA TÁC GIẢ LÊ QUỐC. TÁC GIẢ LÀ MỘT TRÍ THỨC VIỆT KIỀU MỸ, CÓ KIẾN THỨC THỜI SỰ BAO QUÁT VÀ TẦM NHÌN CHÍNH TRỊ SẮC SẢO. HIẾM THẤY MỘT VIỆT KIỀU MỸ NHƯ VẬY.TÌNH CỜ TRÊN MẠNG INTERNET  THẤY CÓ BÀI BÁO NÀY VỚI NHIỀU CHI TIẾT THÚ VỊ ĐÁNG CHO NGƯỜI VIỆT CHÚNG TA HỌC HỎI. TUY NHIÊN TRONG BÀI CÓ VÀI ĐOẠN “NHẠY CẢM” NÊN ĐÃ LƯỢC BỎ .

*

Tư bản là một thế lực vô tổ quốc. Nơi nào có thể làm ra tiền là nó đến. Nơi nào không còn kiếm được tiền thì nó đi… Nó chẳng cần phân biệt bạn hay thù, dân chủ hay độc tài, Cộng sản hay không Cộng sản. Mục đích tối hậu của nó là TIỀN. Cho nên, lắm khi vì tiền mà nó hy sinh mạng sống đồng bào của nó, chà đạp lên xác chết của nhân loại, hy sinh cả một quốc gia mà trước đó nó là Đồng Minh – thậm chí phản bội Dân tộc và Tổ quốc của chính nước nó.

Nền chính trị Hoa Kỳ - qua 44 trào Tổng Thống – đều do một thế lực tư bản vô hình có tên gọi là “Hệ thống siêu quyền lực” phía sau, hoạch định chính sách và đường lối. Tổng Thống (Hành Pháp) hay Quốc hội (Lập pháp) chỉ là những cơ quan thi hành chính sách của siêu quyền lực đó. Có nhiều người thuộc đủ mọi thành phần chánh khách, trí thức, bình dân hay hỏi nhau: Trung Tâm quyền lực Hoa kỳ ở đâu ? Ai là người điều khiển: – Tổng Thống dân cử – Chủ Tịch Quốc hội dân cử, hay Phán quyết của 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện?

Mọi người đều mù mờ, như bị một làn khói hư hư thực thực che giấu, khó nhận ra được ai là người điều khiển quyền lực Hoa Kỳ? Đâu là cơ quan chính thức chỉ huy? Chỉ nghe được những nhận xét chung chung: “Các thế lực Tư Bản tài phiệt” .

Sử gia lỗi lạc nước Mỹ – ông Carrol Quigley nhận định thẳng thắn rằng : “Quả là một ý tưởng điên rồ, nếu cho rằng hai đảng đại diện cho những tư tưởng và chinh sách đối nghịch – một của cánh hữu và một của cánh Tả. Ý tưởng đó chỉ có thể chấp nhận với những tư tưởng gia Hàn Lâm và giáo điều mà thôi!

Thực chất, Hai đảng chỉ là Một.

Cho nên chuyện người Mỹ có thể dùng lá phiếu để thay đổi quyền lực ở Mỹ chỉ là ảo tưởng.

Theo dòng lịch sử Hoa Kỳ – các sử gia, các nhà nghiên cứu chính trị hay các thành viên rời bỏ các tổ chức liên quan đến hệ thống siêu quyền lực, đều nhìn nhận rằng : Nền chính trị Hoa Kỳ luôn luôn do một hệ thống siêu quyền lực đứng đàng sau để chi phối và kiểm soát…

.

1/.HỆ THỐNG SIÊU QUYỀN LỰC HOA KỲ: