Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT UẨN KHÚC ĐẰNG SAU BÀI HÁT "HAPPY NEW YEAR"

 



Đằng sau bài hát "Happy New Year" được bật lên trong khoảnh khắc giao thừa là câu chuyện đau buồn và đầy suy tư mà ít ai biết

Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng của bài "Happy New Year" của ABBA đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam nhưng ít ai biết ý nghĩa đằng sau bài hát này.

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, người người nhà nhà sẽ mở bài "Happy New Year" để chào đón một năm mới đầy những hi vọng mới. Đặc biệt, trong khoảnh khắc giao thời từ năm cũ sang năm mới, tiếng hát của ban nhạc ABBA cất lên khiến trái tim mỗi người đều rung động và bồi hồi. Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng này đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam.

Happy New Year là một trong những ca khúc bất hủ của ban nhạc ABBA. Bài hát được phát hành vào năm 1980, ngay lập tức đã trở thành hit và được phát lên vào mỗi dịp năm mới của rất nhiều nước trên thế giới. Như tiêu đề của bài hát, "Happy New Year" là một câu chúc tốt lành cho ngày đầu năm mới. Trong bài hát này, ABBA chúc mọi người một năm mới hạnh phúc và hy vọng rằng trong năm mới, thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn.

Có một điều thú vị về bài hát này, ban đầu nó được đặt tên là Daddy Don’t Get Drunk On Christmas Day (Bố ơi đừng say xỉn trong ngày Giáng sinh). Vào thời điểm đó, ban nhạc ABBA thậm chí còn không đánh giá cao về bài hát này, dù phát hành vào năm 1980 nhưng phải mãi đến năm 1999 mới phát hành đĩa đơn.

Đối với người Việt Nam, bài hát này vang lên có nghĩa là Tết đến, xuân về. Từ già trẻ, lớn bé, vào đêm Giao thừa đều sẽ ra rả hát theo. Nhưng có lẽ chẳng mấy ai hiểu được hết toàn bộ ý nghĩa của bài hát.

Hóa ra, bài hát này lại mang nhiều ý nghĩa đau buồn và sâu lắng mà không phải ai cũng hiểu.

Hãy cùng nhìn lại bối cảnh thế giới vào năm 1980 khi bài hát ra đời.

Ban nhạc ABBA gồm có 4 thành viên và cũng chính là 2 cặp vợ chồng: Björn Ulvaeus và Agnetha Fältskog - Benny Anderson và Anni-Frid Lyngstad. Ban nhạc đã cùng nhau đi từ năm 1972 với những bản hit thành công khiến cả thế giới biết đến. Trong thời kì đỉnh cao, những bài hát của họ đã vươn ra khắp các châu lục và còn sức sống mãnh liệt cho đến tận bây giờ.

Thế nhưng, vào năm 1979, cặp đôi Bjorn và Agnetha tuyên bố ly hôn, là dấu hiệu đầu tiên cho sự tan rã của nhóm nhạc vào năm 1982.

"Rượu sâm-panh đã cạn và pháo hoa đã tàn

Chỉ còn tôi và bạn ở nơi đây cùng với những niềm đau và sự mất mát

Tiệc đã tàn và bình minh thì thật ảm đạm

Không giống như ngày hôm qua..."

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Vì sao Liên Xô sụp đổ?

Lê Phú Khải 

 Viết nhân 30 năm ngày Liên Xô sụp đổ 25-12-1991 – 25-12-2021 Ngày 22-8-1991, Goocbachôp đang bị giam lỏng ở khu nghỉ mát Krym đã về Matxcơva nắm lại quyền tổng thống và tuyên bố từ chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, yêu cầu Ban chấp hành trung ương Đảng giải thể. Ngày 25-12-1991, Tổng thống Liên Xô Goocbachôp từ chức và bàn giao mật mã kích hoạt tên lửa hạt nhân của Xô Viết cho Tổng thống Nga Boris Yelsin vào 7 giờ 30 phút tối cùng ngày. Liên Xô chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 26-12-1991 bởi tuyên bố số 1420-H của Hội đồng Tối cao Liên bang Xô Viết, công nhận quyền độc lập của 12 nước cộng hoà còn lại. Liên Xô tan rã sau 74 năm đã khiến nhiều người cộng sản trên thế giới chết lặng trong đau đớn bàng hoàng, trong đó có những người cộng sản Việt Nam! Liên Xô là đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới, ¼ các nhà bác học thế giới là của Liên Xô. Liên Xô có tiềm năng khoa học kỹ thuật rất lớn, đã đạt đỉnh cao về vật lý hạt nhân, cơ học lượng tử, chinh phục vũ trụ. Đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới đó, lại không có trí thức! Hay nói đúng hơn là không có tầng lớp trí thức, không có tầng lớp tinh hoa có khả năng “đánh thức không cho xã hội ngủ” (Cao Huy Thuần). Dưới chế độ độc tài, Liên Xô chỉ có một lớp người “thông minh, béo tốt và dễ bảo” như lời chị Irina – Trưởng ban Việt ngữ Đài phát thanh đối ngoại Matxcơva – nói với tôi vào lúc đó, tức tháng 3 năm 1991 tại Matxcơva. Vẫn theo lời chị Irina, lớp người thông minh và béo tốt ấy để đảng sai khiến, để lãnh tụ dạy bảo! Báo chí với vai trò “dẫn đầu và báo trước hiểm nguy” (Josep Plitzer) hoàn toàn vắng bóng ở Liên Xô. Văn học nghệ thuật “là niềm vui thích cao nhất mà con người tự đem lại cho mình” (Marx) thì ở xã hội Liên Xô nó chỉ là công cụ để ca ngợi kẻ cầm quyền! Chính vì thế mà nhà tương lai học nổi tiếng của Mỹ AlvinToffler, tác giả của ba bộ sách: Cú sốc tương lai (Future Shock), Làn sóng thứ ba (The Third Wave), Thăng trầm quyền lực (Power Shift) – những cuốn sách mà giới trí thức cải cách của Trung Quốc xem là Kinh Thánh của mình, còn ông Đặng Tiểu Bình xem là sách gối đầu giường của mình –, tác giả Alvin Toffler nhìn nhận Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917 như một “làn sóng” tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn, mà không nhìn nhận nó như một tiến trình xã hội bền vững văn minh. Alvin Toffler viết: Ở nước Nga, sự va chạm giữa những lực lượng Làn sóng thứ nhất và thứ hai cũng nổ ra. Cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917 là bản dịch của Nga về cuộc nội chiến ở Mỹ. Nó được chiến đấu không phải cho chủ nghĩa cộng sản, mà là cho vấn đề công nghiệp. Khi những bônsêvich quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nông nô và nền quân chủ phong kiến, nó đẩy nông nghiệp ra phía sau và tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn. Họ trở thành Đảng của làn sóng thứ hai (Làn sóng thứ ba – Alvin Toffler – NXB Thông tin Lý luận Hà Nội – 1992 – trang 23). Nhận định của tác giả “Làn sóng thứ ba” cho chúng ta cơ sở để suy nghĩ, lý giải vì sao Đại hội 14 của Đảng cộng sản Liên Xô tháng 12-1925 quyết định công nghiệp hoá trước tiên, nhắm vào công nghiệp nặng. Và chỉ sau 15 năm, Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp, đứng đầu châu Âu về tổng sản lượng công nghiệp. Công cuộc tập thể hoá nông nghiệp chỉ tiến hành sau đó, và cũng chỉ để phục vụ phát triển công nghiệp. Stalin cũng dùng những biện pháp hành chính để ưu đãi đặc biệt (hưởng theo nhu cầu) đối với đội ngũ các nhà bác học (không phải trí thức!). Thành phố mang tên “Ngôi sao” được lập nên. Các nhà bác học được hưởng chế độ “hưởng theo nhu cầu” ở thành phố Ngôi sao này. Vì thế, Liên Xô mau chóng đưa được người lên vũ trụ. Nhưng lên được vũ trụ rồi, vẫn phải quay về đất nước mà ở đó không có nhân văn, ở đó tan rã về đạo đức, thiếu vắng lương tâm công dân, những kẻ có hành vi tồi tệ lại nắm giữ những vị trí then chốt. Những điều đó mọi người Xô Viết đều biết và im lặng! Lương tâm người Xô Viết im lặng! Nhà văn Xô Viết Damien Granin đã viết về sự xói mòn lương tâm ấy qua nhiều truyện ngắn của ông trên báo Văn học Liên Xô về nạn hối lộ trong các bệnh viện vào những năm 1987-1988. Khi đã cải cách cải tổ, xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong những năm tháng dưới chế độ toàn trị, bệnh quan liêu mệnh lệnh, đặc quyền đặc lợi… thực chất là một xã hội phong kiến trá hình do bọn quý tộc đỏ quyết bám trụ sau “làn sóng thứ hai”. Vì thế nó hung bạo hơn bất cứ chế độ độc tài nào trong lịch sử. Nó gia cố tệ sùng bái cá nhân, xây dựng uy quyền tuyệt đối nhằm kiểm soát toàn bộ đời sống xã hội, từ văn hoá, kinh tế, quân sự, chính trị đến đời sống dân sinh và tư duy cá nhân. Mọi suy nghĩ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, phục tùng tuyệt đối với “lãnh tụ vĩ đại”, với “người cha của tổ quốc”, với “nhạc trưởng của khoa học”, “người trông nom hạnh phúc của loài người”… Vì thế, người ta có thể giải thích được, vì sao Stalin lại có thể trị vì lâu đến thế, và giết nhiều người đến thế! Giết người không cần xét xử là đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa cộng sản dưới thời Stalin! Hai mươi năm cầm quyền của Brêgiơnep sau này là hai mươi năm trì trệ mà “cơ chế kìm hãm” chiếm ưu thế. Từ sau khi Khơrutsốp bị gạt khỏi chức vụ Bí thư thứ nhất, Liên Xô bị giằng xé giữa hai xu thế đối lập nhau, mà xu thế quan liêu bảo thủ thắng thế. Bọn quan liêu bảo thủ xuất hiện và củng cố địa vị, từ trên xuống dưới, từ cao đến thấp, chúng dung dưỡng cho bọn tham nhũng. Thói bịp bợm, nạn nghiện ngập thâm nhập cả vào giới lãnh đạo cao cấp. Trong công tác cán bộ, sự đề bạt theo nguyên tắc trung thành với cá nhân khuyến khích thói xu nịnh và tâng bốc, tách rời nói và làm. Trong xã hội xuất hiện tâm lý tiêu dùng, “sùng bái cái tầm thường”. Dân chúng chán nản, thờ ơ với mọi thứ. Xã hội Liên Xô không vượt qua được sự trì trệ và đình đốn. Ngày 7-11-1982, theo thường lệ, Matxcơva tổ chức diễu binh kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Ba ngày sau Brêgiơnep chết. Mấy ngày sau nhân dân hân hoan đón nhận tin Andropop được cử làm Tổng bí thư của đảng. Những yêu cầu đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã chín muồi, vì thế những người cộng sản Liên Xô hân hoan nghe Andropop tuyên bố khi nhậm chức: “Từ lâu chúng ta đã quen bằng lòng với những biện pháp nửa vời, bây giờ là lúc phải giành lại những thời gian đã mất”. Andropop bắt tay vào những công việc cải cách với nghị lực hiếm thấy. Bắt đầu từ lập lại kỷ cương trong lao động, chặn đứng tham nhũng, cải tổ cơ cấu kinh tế. Một số lãnh đạo từ cơ sở đến cao cấp bị thay thế. Xã hội Liên Xô bắt đầu rung chuyển. Nhưng ngày 9-2-1984, Andropop từ trần trong sự bàng hoàng của nhân dân Xô Viết. Trecnenkô được cử lên thay. Cái đà khởi động dưới thời Andropop “dần dần chựng lại” như nhận xét của một số người. Ngày 10-3-1985 Trecnenkô mất. Goocbachốp, người trẻ nhất trong Bộ Chính trị (54 tuổi) được cử lên thay. “Kỷ nguyên Goocbachốp bắt đầu”. Ngày 23-4-1985, Goocbachốp triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng. Một hội nghị được coi là bước ngoặt trong lịch sử Liên Xô. Tại hội nghị đó, Goocbachốp đề ra chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, được gọi là “chiến lược gia tốc”. Từ đó cho đến lúc Liên Xô tan rã, công cuộc cải tổ và đổi mới ở Liên Xô đã diễn ra như thế nào thì chúng ta, những người Việt Nam và nhân loại đã thấy, và đã có không biết bao tranh cãi, bút mực đã đổ ra để lý giải về sự sụp đổ và tan rã của “đế quốc” hùng mạnh này. Có lẽ, tôi là nhà báo Việt Nam cuối cùng có mặt ở Liên Xô trong những giờ phút cuối cùng (1991) trước biến cố lịch sử này. May mắn hơn nữa cho tôi là được làm việc với các nhà báo Liên Xô trong Ban Việt ngữ của Đài phát thanh Đối ngoại Matxcơva, những người rất am tường thế cuộc và nói tiếng Việt rất trôi chảy. Được nhìn tận mắt, nghe tận tai – bằng tiếng Việt –, và được các bạn Nga lý giải những khúc mắc của mình về xã hội Xô Viết, tôi có thể nêu lên bốn nguyên nhân cơ bản về sự sụp đổ của Liên Xô: Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô áp đặt quyền lực tuyệt đối lên nhà nước, làm thay bộ máy nhà nước, khiến bộ máy Đảng rất cồng kềnh, già cỗi, kém hiệu quả. Nhóm cải cách Goocbachốp vừa không thoát khỏi cách làm cũ, vừa mắc sai lầm mới, không kiểm soát được xã hội. Hai là, hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế không động viên được sức lao động. Kế hoạch kinh tế cưỡng ép, chủ quan, đi ngược quy luật kinh tế. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, do ai cũng có quyền ra lệnh, can thiệp vào các hoạt động kinh tế và không ai chịu trách nhiệm về các kết quả kinh tế cuối cùng. Ba là, chính quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân. Các hoạt động văn hoá nghệ thuật trở thành nhạt nhẽo, nghèo nàn. Tâm hồn người Xô Viết khô héo! Một nguyên nữa phải nhắc đến là Liên Xô đã “sập bẫy” trong cuộc chạy đua trong chiến tranh lạnh với Mỹ và sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm ở Afghanistan. Nếu ai còn nghi ngờ gì về sự sụp đổ của Liên Xô, thì xin đọc lại diễn văn từ chức dài 7 phút do Tổng thống Goocbachốp đọc trên Đài Truyền hình Liên Xô (mà Thông tấn xã Việt Nam trong bản tin mật đã đăng lại): “Tôi có thể làm Nga Hoàng 20 năm nữa, nhưng như thế là vô đạo đức nên tôi đã cải cách… Các bạn sẽ làm tiếp”. Sài Gòn, 20-12-2021 

 L.P.K.

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Đường lối của quốc tế xã hội chủ nghĩa đang ảnh hưởng tới những vấn đề toàn cầu[1]

Vũ Cao Đàm

 


Dẫn nhập

Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã từng xuất hiện các tổ chức gọi là “Quốc tế”

-    Quốc tế I, do Marx sáng lập năm 1864, tồn tại trong khoảng thời gian từ 1864-1878;

-  Quốc tế II, do Engels sáng lập, 1889-1914;

- Quốc tế III, do Lênin sáng lập năm 1919, Stalin giải thể năm 1943; chính Stalin đã tái lập năm 1947 và Khrouchev giải thể năm 1956;

- Quốc tế IV do Trosky sáng lập năm 1938, đến 1953 bị phân liệt nhanh chóng đi đến tan rã; 

- Quốc tế V với tên gọi Liên đoàn Quốc tế V, được kêu gọi thành lập năm 2003 ( thực chất là từ 1951 ) . Đến 2010 đã có nhiều hoạt động tại Áo, Séc, Đức, Pakistan, Thụy Điển, Sri Lanka, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Nhóm cộng sản New Zeland cũng tổ chức những đối thoại cho một quốc tế thứ năm[2];

- Cuối cùng, còn tồn tại hiện nay là Quốc tế xã hội chủ nghĩa với 120 chính đảng lao động và xã hội dân chủ, trong đó đã có 21 đảng tham gia chính phủ ở các mức độ khác nhau[3].

Quốc tế xã hội chủ nghĩa (Socialist International), được thành lập năm 1951 tại Franfurt (Cộng hòa Liên bang Đức), tiếp nhận đường lối của Quốc tế II, và cũng có thể xem là tổ chức hậu thân của Quốc tế II[4]. Theo Báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), đường lối của Quốc tế xã hội chủ nghĩa đã “cố gắng đáp ứng những vấn đề xã hội và những vấn đề toàn cầu”[5]. Đây là một nhận định khách quan trên cơ quan ngôn luận của Đảng CSVN. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định này.

Chúng tôi muốn viện dẫn một nội dung trong đường lối của Quốc tế xã hội chủ nghĩa: Phát triển bền vững. Chính sách này bắt nguồn từ những bế tắc trong tư duy phát triển của nhân loại. Chúng tôi cũng bắt đầu từ đây.

Những bế tắc trong tư duy phát triển của nhân loại

Những bế tắc này bắt nguồn từ một thông điệp cảnh báo rất nghiêm trọng trước thế giới vào năm 1972.

Đó là Nghị trình của Câu lạc bộ Rôm (Rome, tiếng Việt trước đây gọi là La Mã, thuộc nước Ý). Trong những cuộc thảo luận của Câu lạc bộ Rôm, Meadow đã trình bày một báo cáo gây chấn động dư luận về những bế tắc trong các chính sách phát triển. Báo cáo có tên là “Những giới hạn của sự phát triển” (Limits to growth), trong đó đưa ra dẫn liệu nhiều mặt của sự bế tắc, được xem là tư tưởng bi quan trong phát triển. Có thể tóm tắt như sau:

- Tài nguyên bị khai thác ngày càng cạn kiệt.

- Năng lực sinh lý của con người không thể điều khiển trước tốc độ ngày càng tăng cao của  máy móc

- Tất cả các chủng loại vật liệu hiện có không đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng trong sản xuất, chẳng hạn, vừa đáp ứng các tham số cơ học, nhiệt học, hóa học, quang học, v.v…, lại vừa đáp ứng các tham số sinh học, như kiểu mặt điện thoai thông minh, máy tính bảng và hàng loạt thiết bị được sử dụng trong nền sản xuất hiện đại.

- Đặc biệt, công nghiệp khai thác và chế biến tài nguyên ngày càng dẫn tới phá vỡ hệ sinh thái và tàn phá môi trường sống. Con người đang tự mình gây tổn thương cuộc sống của chính mình, thậm chí đến mức có thể nói, dường như nhân loại đang tự sát.

-   v.v…

Những nỗ lực giải thoát bế tắc trong tư duy phát triển

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

HỊCH TƯỚNG SĨ THẾ KỶ 21

(Sách văn học ko cần dầy, in bài này là đủ.)

Ta cùng các ngươi

Sinh ra phải thời bao cấp

Lớn lên gặp buổi thị trường.

Trông thấy:

Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng

Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước

Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người

Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.

Thật khác nào:

Đem cổ tích mà biến thành hiện thực

Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa

Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.

Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,

Học vị đã cao, học hàm không thấp

Ăn thì chọn cá nước, chim trời

Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến

Chức nhỏ thì ta… quy hoạch

Lương ít thì có lộc nhiều.

Đi bộ A tít, Cam ry

Hàng không Elai, Xi pic.

Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận

Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.

Lại còn đãi sỹ chiêu hiền

Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.

Lại còn chính sách khuyến khoa

Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

Thật là so với:

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa

 


( Trang web điện tử  của ĐCS Việt nam - Theo "Lịch sử thế giới hiện đại", NXb. Giáo dục)

Thứ Ba, 17/4/2018 10:38'(GMT+7)

 

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Socialist lnternational, viết tắt là SJ) là một tổ chức quốc tế tập hợp các Đảng Xã hội - dân chủ, các Đảng Xã hội chủ nghĩa và các Đảng Công nhân (hoặc Công đảng) đang hoạt động ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa và một số nước khác trên thế giới. 

Tổ chức này được thành lập tại Đại hội lần thứ nhất họp ở thành phố Phranphuốc trên sông Mainơ (CHLB Đức) từ ngày 30/6 đến 3/7/1951. Đến nay, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã tiến hành được 18 đại hội. Đại hội gần đây nhất là Đại hội lần thứ 18 tại Xtôckhôm (Thụy Điển) từ ngày 20 đến 22/6/1989. Cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc tế Xã hội chủ nghĩa là Bản tin xuất bản bằng tiếng Anh - ''Socialist Affairs'' (Những vấn đề Xã hội chủ nghĩa).

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa là hiện thân của trào lưu xã hội - dân chủ hiện đại, tự mình khẳng định sẽ phấn đấu cho những giá trị truyền thống của mình và cố gắng đổi mới để đáp ứng những đòi hỏi của thời đại ngày nay.

Trong Đại hội thành lập của mình, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã ra bản tuyên bố có tính chất cương lĩnh với nhan đề ''Về mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội dân chủ'', trong đó định hình rõ khái niệm ''chủ nghĩa xã hội dân chủ''. Ở đây, các thành viên của Quốc tế Xã hội chủ nghĩa muốn thay thế khái niệm ''chủ nghĩa cải lương xã hội'' trước đó, và muốn đề cao vấn đề ''dân chủ'' trong mọi mặt của đời sống xã hội, mà trước hết là dân chủ về xã hội. Các đảng trong Quốc tế này dự định thực hiện ''bằng biện pháp dân chủ'' trong tất cả các lĩnh vực của đời sống để cải cách chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội.

Quốc tế xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển về số lượng vàtổ chức của mình. Năm 1976, Quốc tế có 66 đảng và các tổ chức thành viên. Đến năm 1986, số lượng các đảng và tổ chức thành viên là 82. Số lượng đảng viên của tất cả các đảng thuộc trào lưu xã hội - dân chủ năm 1972 gồm 14,4 triệu, năm 1983 là 20 triệu và năm 1986 là 16 triệu. Qua các cuộc bầu cử vào nghị viện, các Đảng Xã hội - dân chủ thu được số phiếu bầu đáng kể của cử tri, chứng tỏ khả năng nhất định về mặt vận động và thu hút quần chúng của họ: năm 1976, họ thu được 80 triệu cử tri; năm 1983, là 210 triệu và năm 1986 là 100 triệu cử tri.

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

TUẦN 49 NGÀY

HOÀNG TUẤN PHỔ
Lễ cúng cơm tính từ ngày thân nhân mới mất đến ngày thứ 49, cúng tuần “thất thất” hay “tứ cửu”. (Thất thất là 7 ngày x 7 ngày = 49 ngày; tứ cửu là “bốn chín” tức 49 ngày). Dân gian thường gọi con số 50 - tuần 50 ngày cho chẵn, và cũng tính 50 ngày để cúng cho dễ nhớ. Tất nhiên như thế là sai, dù chỉ sai một ngày, vì không đúng ý nghĩa của tuần “tứ cửu”, còn gọi là thất thất hay chung thất. Vậy, lễ cúng tuần 49 ngày có ý nghĩa gì? Chương “Sống chết - Hồn phách” của sách này đã nói rõ “hồn” và “phách” (tức hồn và vía), ở đây không nhắc lại. Sách Gia lễ xưa và nay, Phạm Côn Sơn viết: “Việc làm tuần “thất thất” (7x7) khiến cho một số người thắc mắc là, theo sách vở cổ, thì người đàn bà có tới chín vía mà mỗi lần làm “lễ kỵ” thì tan một vía. Sự việc cúng tuần “chung thất” chỉ có 7 lần như người đàn ông (có bảy vía) thì hai vía còn lại của người đàn bà giải quyết ra sao? Không thấy sách vở nào giải thích về việc dư thừa và trục trặc này!” (NXB Thanh Niên). Tân Việt giải thích Một trăm điều nên biết về Phong tục Việt Nam trong đó có điều: “Tại sao có lễ cúng cơm trong 100 ngày?”: Thờ cúng vong linh giống như khi đang sống, cũng là để thoả nguyện tâm linh, “lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”. Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày? “Cũng tuỳ địa phương, có nơi chỉ cúng hết 49 ngày (tức là lễ chung thất): Theo thuyết của Phật giáo: qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty (tức một tuần, nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch); sau 7 tuần vong hồn siêu thoát. Có nơi thờ cúng hết 100 ngày (tức lễ tốt khốc, nghĩa là thôi khóc). Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này (sau 49 đến 100 ngày) âm hồn vẫn còn phảng phất luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa”. (NXB Văn hoá dân tộc). Cách giải thích của Tân Việt tuy “kỹ hơn” so với các tác giả nói về gia lễ trước và sau ông, như Phan Kế Bính, Nhất Thanh, Phạm Côn Sơn,...nhưng vẫn nặng về “nói theo”. Chỗ nào dựa vào sách thì không đúng sách, chỗ nào không có sách để dựa thì suy đoán chủ quan. Ông vừa giải đáp thắc mắc của chúng ta lại vừa nêu lên thắc mắc để hỏi chúng ta rằng: Sự việc cúng tuần 7 x 7 = 49 là tính 7 vía đàn ông, còn đàn bà những 9 vía (7 x 9 = 63 ngày) tại sao không thấy sách vở nào giải thích về con số “dư thừa” (2 vía) này? Thuyết linh hồn phổ biến (Đạo giáo, Nho giáo, dân gian) là Tam hồn thất phách, nhà lý luận Đông y thêm “nhị phách” là thai phách và huyết phách để chữa bệnh cho phụ nữ, vì thế đàn bà mới có những “cửu phách”, tức 9 vía. Nhưng phụ nữ đến tuổi 49, 50, hết kinh nguyệt, huyết phách cũng tan; khi huyết phách tan tất không còn khả năng thụ thai thì thai phách cũng mất luôn. Rốt cuộc, đàn bà cũng chỉ có thất phách. Nếu họ chết sớm (trước tuổi 50) vẫn không thể có cửu phách, vì y học không can dự vào chuyện cúng lễ, tang ma. “Thất thất” là nghi lễ theo Đạo giáo. Sách Xuân Vũ dật hưởng của Điền Nghệ Hành: Người ta tính từ lúc mới lọt lòng, cứ 7 ngày là một lạp, phải 49 ngày mới đủ 7 lạp, thân thể mới hoàn chỉnh bảy phách (vía) để thành “tam hồn thất phách” (ba hồn bảy vía). Khi chết, người ta cũng phải 7 ngày mới tan một vía, sau 7 lần 7 ngày là 49 ngày, bảy vía (thất phách) mới tiêu hết. Lễ cúng giỗ theo Đạo giáo, tính từ ngày chết, cứ 7 ngày phải cúng một giỗ (kỵ) cho một vía (phách), sau 7 lần giỗ: 49 ngày, mới xong giỗ. Cúng 49 ngày, nói chính xác là ngày thứ 49 tính từ ngày chết là hết 7 lần giỗ vía, vì thế mới gọi là chung thất (chữ chung là hết, chữ thất là bảy). Đáng lẽ phải cúng 7 lần giỗ trong khoảng thời gian 49 ngày, dân ta do muốn giản tiện, bỏ qua 6 giỗ, chỉ cúng giỗ lần thứ 7. (Chú ý đây chỉ là giỗ vía, còn giỗ hồn mỗi năm cúng một lần vào ngày mất, và cúng cho đến hết đời thứ năm). Theo thuyết đầu thai luân hồi của Phật giáo: người ta sau khi chết, trong khoảng 49 ngày, A-lại-da-thức (tức Đệ bát thức, tức tâm, tức hồn) đầu thai chuyển kiếp (chuyển kiếp khác bằng đường đầu thai). Đạo Phật cũng không nói người ta có tam hồn thất phách, mà chủ trương con người ta có bát thức (8 thức), lục căn: nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỵ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (thân thể), ý (tim óc) đối lục trần: sắc (màu sắc), thanh (tiếng), hương (mùi), vị (mặn, ngọt, chua, cay), xúc (cảm xúc), pháp (vật chất nói chung) sinh ra lục thức (6 thức): nhãn thức (nhìn thấy màu sắc xấu đẹp), nhĩ thức (nghe thấy âm thanh thế nào), tỵ thức (ngửi thấy mùi thơm, thối...), thiệt thức (lưỡi nếm vị ngọt bùi, cay, đắng), thân thức (cảm thấy nóng, lạnh), ý thức (quan sát, phân tích nhận định các hiện tượng). Sáu thức tương tự 6 giác quan trước đối tượng vật chất bên ngoài thiên nhiên xã hội: hình sắc, thanh âm, mùi, vị, thân thể, tâm não. Học thuyết này của Phật giáo hoàn toàn duy vật. Nhưng ngoài lục thức, còn thêm Đệ thất thức (Mạt-na-thức), Đệ bát thức (A-lại-da-thức), Phật giáo lại bước qua lĩnh vực duy vật, chuyển sang thế giới duy tâm. Thuyết Bát thức xuất xứ từ học thuyết Duy thức luận được Pháp tướng tông dùng làm căn cứ lý luận cho tông phái Phật giáo của mình thực chất là một học thuyết lý luận siêu hình, định nghĩa các thuật ngữ A-lại-da-thức, Mạt-na-thức về chữ nghĩa tuy cao siêu, có thể hiểu như cái “tâm” của nhà Phật thường được nói tới. Đó là nguồn gốc của thế giới vật chất bên trong có bản ngã. Đó còn là chủ thể tinh thần của luân hồi quả báo. Đó cũng là cái nhân dân ta quen gọi, thường gọi là linh hồn đầu thai quả báo. Thuyết nhân quả báo ứng là kết quả của nguyên nhân, gây ra thiện hay ác, tất nhận được kết quả tốt, xấu, không chỉ có làm việc ác mới nhận sự báo ứng, mà làm điều thiện cũng được sự báo ứng. Do đó, mọi người dù lúc sống thiện, hay ác sau khi chết đều phải luân hồi chuyển kiếp sướng, khổ khác nhau. Dân ta cúng tuần “thất thất” là theo thuyết “tam hồn thất phách” của Đạo giáo, nhưng nghi lễ cầu cúng vào dịp lễ này (kể cả cúng 100 ngày) lại thỉnh sư về nhà lập trai đàn làm lễ cầu siêu hoặc rước vong hồn lên chùa làm lễ cầu cúng cho linh hồn được siêu thoát, lại theo thuyết “siêu sinh tịnh độ” của Phật giáo. Siêu sinh tịnh độ là gì? Là linh hồn không phải đầu thai chuyển kiếp trong vòng luân hồi lục đạo để tiếp tục chịu bốn cái khổ lớn: Sinh (sống), lão (già yếu), bệnh (bệnh tật ốm đau), tử (chết chóc). Sự cầu mong ấy liệu có thay đổi được thuyết nhân quả báo ứng của chính nhà Phật đã đề xướng và gọi đó là “luật”? Hay đây là trường hợp “lách luật” hoặc chỉ một câu nói của Phật đủ thành “luật sửa đổi”, “luật bổ sung”? Không có cơ sở chứng minh sinh thời Phật tổ Thích-ca tỏ ra có ý muốn điều chỉnh luật nhân quả báo ứng. Chỉ thấy sách Vô Lượng Thọ kinh (Vô Lượng Thọ là tên khác của Phật A Di Đà) kể chuyện Phật Thích-ca lúc ấy đang ở vườn Kỳ Viên nói với các đại đệ tử Xá-Lợi-Phất, Ca-Diếp, A-Nan-Đà rằng chúng sinh nếu chăm niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà có thể sẽ được ngài đón tiếp sang thế giới Tây phương Cực lạc do ngài làm giáo chủ. Đại ý Phật muốn đưa ra một phương pháp tu hành phù hợp với trình độ nhận thức quá thấp kém của loại chúng sinh (người) không thể hiểu được nghĩa lý sâu xa của nhà Phật và những phương thức tu hành cao siêu. Luôn luôn niệm Phật là luôn luôn hướng về đức Phật, luôn luôn hướng về đức Phật là luôn luôn nghĩ đến điều thiện, luôn luôn nghĩ đến điều thiện sẽ luôn luôn tránh được điều ác. Chúng sinh tránh được điều ác là không gây nghiệp chướng tất sẽ được kết quả tốt đẹp, đạt tới cõi an vui, cực lạc. Thực chất phương pháp tu hành này để đạt tới mục đích siêu sinh, vãng sinh không nằm ngoài luật nhân quả báo ứng. Cho nên giáo lý Tịnh Độ tông chuyên tu hành theo phương thức niệm Phật cầu siêu, sám hối, giải thích: Lấy niệm Phật, hành nghiệp của người tu hành làm nội nhân, lấy nguyện lực của đức A-Di-Đà làm ngoại duyên. Nội, ngoại tương ứng sẽ được vãng sinh sang thế giới Tịnh Độ (Tây phương) Cực lạc thoát khỏi kiếp sống trần gian. Như vậy, niệm Phật chỉ mới là ý nghĩ, sự cầu nguyện, còn phải kết hợp với hành nghiệp là hành động, việc làm mới tạo thành cái nhân bên trong chứa sẵn mầm thiện để được cái quả tức kết quả tốt đẹp. Thế nào là “Lấy nguyện lực của đức A-Di-Đà làm ngoại duyên”? Là có ý nói sự cứu giúp của Phật A-Di-Đà chỉ là tạo điều kiện đất nước, khí hậu để hạt giống lành (thiện) thành cây tốt, cho quả đẹp (sang thế giới Cực lạc). Nếu cha mẹ lúc sống không làm điều thiện, sau cha mẹ chết, con cái phải ra sức làm nhiều việc thiện hơn mới mong giúp cha mẹ siêu thoát. Lễ cầu siêu là lễ Phật cầu cho vong hồn cha mẹ được siêu thoát “vãng sinh Tây phương Tịnh độ Cực Lạc thế giới”, nhưng trai đàn dù lớn đến đâu, nhà sư hành lễ dù đông thế nào, thời gian tụng kinh niệm Phật dù bao lâu, cũng không thể dễ dàng xóa sạch mọi tội lỗi của người chết đã gây ra lúc còn sống. Đối với lễ cúng 49 ngày, chúng ta không bài bác lễ cầu siêu, cũng không mê tín lễ cầu siêu. Nhìn vào thực tế, nhiều địa phương, nhiều nhà, lễ cầu siêu chỉ là hình thức, từ lâu lễ đã biến thành lệ, một thứ “lệ” trước sao, nay thế, người ta thế nào, mình thế ấy, không tìm hiểu, không bàn cãi, bỏ thì không yên tâm, theo thì lắm khi cũng phiền toái. Tuy nhiên, các cụ xưa cũng đã cắt giảm đi nhiều không còn lệ 7 ngày một lần cầu siêu hay cúng giỗ, để đến ngày thứ 49 cúng “luôn một thể” và chẳng ai thấy “làm sao” cả. Còn lễ cúng Bách nhật (tuần Bách nhật) thường nói nôm là “100 ngày”. Các sách gia lễ đều ghi chép lễ này nhưng không giải thích ý nghĩa. Cách hiểu đơn giản gọi là 100 ngày sau khi chết là lễ Tốt khốc, cúng lễ này để thôi khóc, từ đây con cháu thôi không khóc nữa, dẫu thương nhớ cha mẹ đến mức nào cũng phải để trong lòng. Nhưng tại sao lễ cúng cơm đáng lẽ nên dừng, thôi ở tuần 49 ngày lại vẫn tiếp tục cho đến 100 ngày? Cứ như tục dân gian cúng 50 ngày (thay cho 49 ngày) thì 100 ngày là thời gian dài gấp đôi! Phải chăng có liên quan đến lễ Tế Ngu? Sau chôn cất, hồn phách chưa yên, nên làm lễ Ngu tế để tế hồn phách cha mẹ cho được yên (chữ “ngu” là yên). Cầu một lần chưa đủ, hai lần chưa được, phải ba lần mới xong. Lần thứ nhất là sơ ngu, lần thứ hai là tái ngu, lần thứ ba là tam ngu. Cụ cử Phan Kế Bính cho biết: Ngu tế tiến hành trong 3 ngày liên tiếp, mỗi ngày một “ngu”. Và “Nhà phú quý mới có Ngu tế, nhà thường thì trong 3 ngày chỉ những họ hàng thân thuộc đến phúng viếng mà thôi”. (Việt Nam phong tục - 1913-1914). Nhất Thanh nói về Lễ tang trong Đất lề quê thói (Sài Gòn 1970) “Thường thường hôm đưa đám về không thể nào kịp làm lễ tế, vì tế Ngu trọng thể và lâu thời giờ hơn tất cả các lễ tiết trong đám tang. Sau Sơ Ngu là Tái Ngu, chọn ngày nhu: những ngày hàng Can: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý làm lễ. Tam Ngu chọn ngày cương: cũng những ngày hàng Can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm làm lễ. (Sách này cũng như các sách của Phạm Côn Sơn - Gia lễ xưa và nay, Tân Việt - Một trăm điều nên biết...đều chép thiếu, sai. Ở đây, tôi đính chính lại theo Vạn sự và Ngọc hạp, nhưng để bàn cho ra lẽ, không phải để theo). Chúng ta nhận thấy lễ Tế Ngu không thể tiến hành trong 3 ngày liền như các sách viết về lễ tang kể trên đã nói vì phải chọn ngày nhu, ngày cương cho Tái Ngu, Tam Ngu. Ví dụ: nếu tế Sơ Ngu là ngày Ất thì Tái Ngu là ngày Đinh, (phải qua ngày Bính), Tam Ngu là ngày Mậu (tiếp sau ngày Đinh), vậy là 4 ngày (cách quãng 1 ngày). Có lẽ bởi sự phiền phức: một là thời gian kéo dài, hai là phải tính toán “cương, nhu”, dân ta đã lâu tế gồm cả ba Ngu vào một ngày là ngày thứ ba sau khi chôn cất, dân gian thường gọi Mở cửa mả. Những nhà người chết 3 ngày thì chôn, họ làm lễ Mở cửa mả cùng ngày chôn, liền sau khi chôn, tức là 3 ngày họ tính từ ngày mất. Cách tính này cố nhiên là bất hợp lý vì nếu quá 3 ngày mới chôn thì sao? Lễ Tế Ngu không thể kéo dài thời gian trong khoảng 49 ngày hay 100 ngày. Lễ 100 ngày là lễ khác - lễ Tốt khốc (thôi khóc). Sau khi thất phách (bảy vía) đã tiêu tan hết không phải cúng cơm hàng ngày nữa, dân gian vẫn cúng cơm là bày tỏ thêm tình thương nhớ, thời gian này không còn là lễ cúng cơm mà chỉ là lệ cúng cơm. Đó là lệ tục, không phải lễ tục thì không thể truy tìm nguồn gốc từ sách vở kinh điển. (Còn nữa) HTP (Trích từ "Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt")

5 TUYỆT CHIÊU TRÊN ĐIỆN THOẠI CỦA BẠN

Có thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị quên chìa khoá ở trong xe, mất chìa khoá xe vẫn lái xe được, hết pin vẫn sử dụng điện thoại được hoặc khi bạn cần SOS… Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ. Kích hoạt pin dự trữ: Lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin. - ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó. - Đơn giản thôi, bạn chỉ cần bấm: *3370# và bạn sẽ thấy pin lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (*), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng! - Đây là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là "Third Hidden Battery Power" để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book... Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy. SOS: Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn. - Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó. - Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn! Mở cửa xe hơi: Xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo. - Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau: + Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn. + Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe. + Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa. - Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường. - Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ! Bảo vệ dữ liệu: Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím *#06# (xin nhắc lại: hoa thị (*), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau. - Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra. - Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng. Ở Việt Nam có các công ty như Mobifone, Vinaphone, Viettel, FPT… Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng. - Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử. Truy xuất nguồn gốc sản xuất: Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng: - Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm! - Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt. - Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt. - Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua! - Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất. *** Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không bạn!!!

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

MỘT BÀI THƠ KỲ LẠ




Tiếng Việt của chúng ta thật tuyệt vời !

Phải nói là bái phục bài thơ lạ kỳ này. Bài thơ được chia sẻ từ nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu ở Paris đăng trên "Khuôn Mặt Văn Nghệ".

Không biết tác giả là ai, nhưng khi đọc bài thơ này ta vô cùng khâm phục tác giả của bài thơ, càng thêm yêu quý và càng phải giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt. Vậy mà có kẻ bày ra thứ trò cải tiến nhảm nhí và muốn phá hoại chữ nghĩa của bao thế hệ tổ tiên để lại.

Bây giờ ta hãy chiêm ngưỡng vẻ độc đáo của bài thơ này :

1. Bài thơ gốc:

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi

Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi

Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người

Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng

Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên :

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha

Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa

Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược

Sóng lặng sông chờ khách lại qua

Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá

Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa

Vơi đầy chén rượu thơ vui thú

Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

(Sẽ có một bài ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :

Cảnh xuân ánh sáng ngời

Thơ rượu chén đầy vơi

Giậu trúc cành xanh biếc

Hương xuân sắc thắm tươi

Khách chờ sông lặng sóng

Thuyền đợi bến đông người

Tiếng hát đàn trầm bổng

Bóng ai mắt mỉm cười.

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2021

TRÍ THỨC VÀ TIẾNG NÓI PHẢN BIỆN

  


Tạ Duy Anh (Lao Ta)

Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào.

Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó, trở thành những kẻ xu nịnh hèn mạt.

Trong khi đó, trí thức là “kho trí khôn” là “túi càn khôn”, là “mỏ trí tuệ” của những xã hội văn minh, đề cao tiếng nói phản biện. Tại đó, trí thức và giới trí thức không chỉ là những người cung cấp ý tưởng, tư tưởng, các sáng kiến, vạch ra kế sách, can dự vào các chính sách, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị tinh thần cao quý như đạo đức, lẽ phải, sự tiến bộ, định hình chiến lược giúp quốc gia hướng tới tương lai.

Vậy trí thức thực chất là ai?

Có khá nhiều định nghĩa thế nào là một trí thức? Theo tiêu chí học vấn và có vẻ cũng dễ được chấp nhận nhất, thì trí thức là người có bằng cấp, có học hàm học vị. Theo tiêu chí công việc, thì trí thức là những người chuyên nghiên cứu, phát minh, sáng chế, quản lý, truyền thụ kiến thức....nghĩa là làm việc bằng cái đầu. Rồi với mỗi chế độ xã hội lại có những định nghĩa khác nhau, theo quan niệm riêng của mình, về trí thức.

Một trí thức lớn (mà tôi không nhớ tên) có một cách nói rất hay, làm nổi bật chân dung của một trí thức. Ông bảo rằng: Người nghĩ ra bom hạt nhân, chắc chắn phải là một bác học.

Nhưng nếu anh ta không thấy trước để cảnh báo về tai họa của bom hạt nhân với nhân loại, thì anh ta chưa phải là một trí thức!”

Một người học đầy mình, có đủ kiến thức đông tây kim cổ nhưng nếu thiếu trách nhiệm với cộng đồng, thiếu đạo đức, vô cảm với nỗi đau đồng loại, thì vẫn chưa phải là một trí thức.

Sự quan trọng của trí thức trước hết bởi họ vốn là những người luôn có óc hoài nghi. Người bình thường, những kẻ ít học, có thể yên phận tin theo số đông, nhưng một trí thức thì không, hoặc không dễ tin theo. Thậm chí anh ta sẵn sàng chống lại tất cả để bảo vệ quan điểm, chính kiến của mình.

Nhưng giá trị đích thực, giá trị lớn nhất của trí thức lại ở chính cái phẩm chất ấy?