Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT UẨN KHÚC ĐẰNG SAU BÀI HÁT "HAPPY NEW YEAR"

 



Đằng sau bài hát "Happy New Year" được bật lên trong khoảnh khắc giao thừa là câu chuyện đau buồn và đầy suy tư mà ít ai biết

Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng của bài "Happy New Year" của ABBA đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam nhưng ít ai biết ý nghĩa đằng sau bài hát này.

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, người người nhà nhà sẽ mở bài "Happy New Year" để chào đón một năm mới đầy những hi vọng mới. Đặc biệt, trong khoảnh khắc giao thời từ năm cũ sang năm mới, tiếng hát của ban nhạc ABBA cất lên khiến trái tim mỗi người đều rung động và bồi hồi. Giai điệu vừa da diết, vừa trầm buồn, sâu lắng này đã hằn sâu trong tâm trí của không ít thế hệ Việt Nam.

Happy New Year là một trong những ca khúc bất hủ của ban nhạc ABBA. Bài hát được phát hành vào năm 1980, ngay lập tức đã trở thành hit và được phát lên vào mỗi dịp năm mới của rất nhiều nước trên thế giới. Như tiêu đề của bài hát, "Happy New Year" là một câu chúc tốt lành cho ngày đầu năm mới. Trong bài hát này, ABBA chúc mọi người một năm mới hạnh phúc và hy vọng rằng trong năm mới, thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn.

Có một điều thú vị về bài hát này, ban đầu nó được đặt tên là Daddy Don’t Get Drunk On Christmas Day (Bố ơi đừng say xỉn trong ngày Giáng sinh). Vào thời điểm đó, ban nhạc ABBA thậm chí còn không đánh giá cao về bài hát này, dù phát hành vào năm 1980 nhưng phải mãi đến năm 1999 mới phát hành đĩa đơn.

Đối với người Việt Nam, bài hát này vang lên có nghĩa là Tết đến, xuân về. Từ già trẻ, lớn bé, vào đêm Giao thừa đều sẽ ra rả hát theo. Nhưng có lẽ chẳng mấy ai hiểu được hết toàn bộ ý nghĩa của bài hát.

Hóa ra, bài hát này lại mang nhiều ý nghĩa đau buồn và sâu lắng mà không phải ai cũng hiểu.

Hãy cùng nhìn lại bối cảnh thế giới vào năm 1980 khi bài hát ra đời.

Ban nhạc ABBA gồm có 4 thành viên và cũng chính là 2 cặp vợ chồng: Björn Ulvaeus và Agnetha Fältskog - Benny Anderson và Anni-Frid Lyngstad. Ban nhạc đã cùng nhau đi từ năm 1972 với những bản hit thành công khiến cả thế giới biết đến. Trong thời kì đỉnh cao, những bài hát của họ đã vươn ra khắp các châu lục và còn sức sống mãnh liệt cho đến tận bây giờ.

Thế nhưng, vào năm 1979, cặp đôi Bjorn và Agnetha tuyên bố ly hôn, là dấu hiệu đầu tiên cho sự tan rã của nhóm nhạc vào năm 1982.

"Rượu sâm-panh đã cạn và pháo hoa đã tàn

Chỉ còn tôi và bạn ở nơi đây cùng với những niềm đau và sự mất mát

Tiệc đã tàn và bình minh thì thật ảm đạm

Không giống như ngày hôm qua..."

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Vì sao Liên Xô sụp đổ?

Lê Phú Khải 

 Viết nhân 30 năm ngày Liên Xô sụp đổ 25-12-1991 – 25-12-2021 Ngày 22-8-1991, Goocbachôp đang bị giam lỏng ở khu nghỉ mát Krym đã về Matxcơva nắm lại quyền tổng thống và tuyên bố từ chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, yêu cầu Ban chấp hành trung ương Đảng giải thể. Ngày 25-12-1991, Tổng thống Liên Xô Goocbachôp từ chức và bàn giao mật mã kích hoạt tên lửa hạt nhân của Xô Viết cho Tổng thống Nga Boris Yelsin vào 7 giờ 30 phút tối cùng ngày. Liên Xô chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 26-12-1991 bởi tuyên bố số 1420-H của Hội đồng Tối cao Liên bang Xô Viết, công nhận quyền độc lập của 12 nước cộng hoà còn lại. Liên Xô tan rã sau 74 năm đã khiến nhiều người cộng sản trên thế giới chết lặng trong đau đớn bàng hoàng, trong đó có những người cộng sản Việt Nam! Liên Xô là đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới, ¼ các nhà bác học thế giới là của Liên Xô. Liên Xô có tiềm năng khoa học kỹ thuật rất lớn, đã đạt đỉnh cao về vật lý hạt nhân, cơ học lượng tử, chinh phục vũ trụ. Đất nước có nhiều nhà bác học nhất thế giới đó, lại không có trí thức! Hay nói đúng hơn là không có tầng lớp trí thức, không có tầng lớp tinh hoa có khả năng “đánh thức không cho xã hội ngủ” (Cao Huy Thuần). Dưới chế độ độc tài, Liên Xô chỉ có một lớp người “thông minh, béo tốt và dễ bảo” như lời chị Irina – Trưởng ban Việt ngữ Đài phát thanh đối ngoại Matxcơva – nói với tôi vào lúc đó, tức tháng 3 năm 1991 tại Matxcơva. Vẫn theo lời chị Irina, lớp người thông minh và béo tốt ấy để đảng sai khiến, để lãnh tụ dạy bảo! Báo chí với vai trò “dẫn đầu và báo trước hiểm nguy” (Josep Plitzer) hoàn toàn vắng bóng ở Liên Xô. Văn học nghệ thuật “là niềm vui thích cao nhất mà con người tự đem lại cho mình” (Marx) thì ở xã hội Liên Xô nó chỉ là công cụ để ca ngợi kẻ cầm quyền! Chính vì thế mà nhà tương lai học nổi tiếng của Mỹ AlvinToffler, tác giả của ba bộ sách: Cú sốc tương lai (Future Shock), Làn sóng thứ ba (The Third Wave), Thăng trầm quyền lực (Power Shift) – những cuốn sách mà giới trí thức cải cách của Trung Quốc xem là Kinh Thánh của mình, còn ông Đặng Tiểu Bình xem là sách gối đầu giường của mình –, tác giả Alvin Toffler nhìn nhận Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917 như một “làn sóng” tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn, mà không nhìn nhận nó như một tiến trình xã hội bền vững văn minh. Alvin Toffler viết: Ở nước Nga, sự va chạm giữa những lực lượng Làn sóng thứ nhất và thứ hai cũng nổ ra. Cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917 là bản dịch của Nga về cuộc nội chiến ở Mỹ. Nó được chiến đấu không phải cho chủ nghĩa cộng sản, mà là cho vấn đề công nghiệp. Khi những bônsêvich quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nông nô và nền quân chủ phong kiến, nó đẩy nông nghiệp ra phía sau và tăng tốc hệ thống công nghiệp quy mô lớn. Họ trở thành Đảng của làn sóng thứ hai (Làn sóng thứ ba – Alvin Toffler – NXB Thông tin Lý luận Hà Nội – 1992 – trang 23). Nhận định của tác giả “Làn sóng thứ ba” cho chúng ta cơ sở để suy nghĩ, lý giải vì sao Đại hội 14 của Đảng cộng sản Liên Xô tháng 12-1925 quyết định công nghiệp hoá trước tiên, nhắm vào công nghiệp nặng. Và chỉ sau 15 năm, Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp, đứng đầu châu Âu về tổng sản lượng công nghiệp. Công cuộc tập thể hoá nông nghiệp chỉ tiến hành sau đó, và cũng chỉ để phục vụ phát triển công nghiệp. Stalin cũng dùng những biện pháp hành chính để ưu đãi đặc biệt (hưởng theo nhu cầu) đối với đội ngũ các nhà bác học (không phải trí thức!). Thành phố mang tên “Ngôi sao” được lập nên. Các nhà bác học được hưởng chế độ “hưởng theo nhu cầu” ở thành phố Ngôi sao này. Vì thế, Liên Xô mau chóng đưa được người lên vũ trụ. Nhưng lên được vũ trụ rồi, vẫn phải quay về đất nước mà ở đó không có nhân văn, ở đó tan rã về đạo đức, thiếu vắng lương tâm công dân, những kẻ có hành vi tồi tệ lại nắm giữ những vị trí then chốt. Những điều đó mọi người Xô Viết đều biết và im lặng! Lương tâm người Xô Viết im lặng! Nhà văn Xô Viết Damien Granin đã viết về sự xói mòn lương tâm ấy qua nhiều truyện ngắn của ông trên báo Văn học Liên Xô về nạn hối lộ trong các bệnh viện vào những năm 1987-1988. Khi đã cải cách cải tổ, xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong những năm tháng dưới chế độ toàn trị, bệnh quan liêu mệnh lệnh, đặc quyền đặc lợi… thực chất là một xã hội phong kiến trá hình do bọn quý tộc đỏ quyết bám trụ sau “làn sóng thứ hai”. Vì thế nó hung bạo hơn bất cứ chế độ độc tài nào trong lịch sử. Nó gia cố tệ sùng bái cá nhân, xây dựng uy quyền tuyệt đối nhằm kiểm soát toàn bộ đời sống xã hội, từ văn hoá, kinh tế, quân sự, chính trị đến đời sống dân sinh và tư duy cá nhân. Mọi suy nghĩ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, phục tùng tuyệt đối với “lãnh tụ vĩ đại”, với “người cha của tổ quốc”, với “nhạc trưởng của khoa học”, “người trông nom hạnh phúc của loài người”… Vì thế, người ta có thể giải thích được, vì sao Stalin lại có thể trị vì lâu đến thế, và giết nhiều người đến thế! Giết người không cần xét xử là đặc điểm nổi bật nhất của chủ nghĩa cộng sản dưới thời Stalin! Hai mươi năm cầm quyền của Brêgiơnep sau này là hai mươi năm trì trệ mà “cơ chế kìm hãm” chiếm ưu thế. Từ sau khi Khơrutsốp bị gạt khỏi chức vụ Bí thư thứ nhất, Liên Xô bị giằng xé giữa hai xu thế đối lập nhau, mà xu thế quan liêu bảo thủ thắng thế. Bọn quan liêu bảo thủ xuất hiện và củng cố địa vị, từ trên xuống dưới, từ cao đến thấp, chúng dung dưỡng cho bọn tham nhũng. Thói bịp bợm, nạn nghiện ngập thâm nhập cả vào giới lãnh đạo cao cấp. Trong công tác cán bộ, sự đề bạt theo nguyên tắc trung thành với cá nhân khuyến khích thói xu nịnh và tâng bốc, tách rời nói và làm. Trong xã hội xuất hiện tâm lý tiêu dùng, “sùng bái cái tầm thường”. Dân chúng chán nản, thờ ơ với mọi thứ. Xã hội Liên Xô không vượt qua được sự trì trệ và đình đốn. Ngày 7-11-1982, theo thường lệ, Matxcơva tổ chức diễu binh kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Ba ngày sau Brêgiơnep chết. Mấy ngày sau nhân dân hân hoan đón nhận tin Andropop được cử làm Tổng bí thư của đảng. Những yêu cầu đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã chín muồi, vì thế những người cộng sản Liên Xô hân hoan nghe Andropop tuyên bố khi nhậm chức: “Từ lâu chúng ta đã quen bằng lòng với những biện pháp nửa vời, bây giờ là lúc phải giành lại những thời gian đã mất”. Andropop bắt tay vào những công việc cải cách với nghị lực hiếm thấy. Bắt đầu từ lập lại kỷ cương trong lao động, chặn đứng tham nhũng, cải tổ cơ cấu kinh tế. Một số lãnh đạo từ cơ sở đến cao cấp bị thay thế. Xã hội Liên Xô bắt đầu rung chuyển. Nhưng ngày 9-2-1984, Andropop từ trần trong sự bàng hoàng của nhân dân Xô Viết. Trecnenkô được cử lên thay. Cái đà khởi động dưới thời Andropop “dần dần chựng lại” như nhận xét của một số người. Ngày 10-3-1985 Trecnenkô mất. Goocbachốp, người trẻ nhất trong Bộ Chính trị (54 tuổi) được cử lên thay. “Kỷ nguyên Goocbachốp bắt đầu”. Ngày 23-4-1985, Goocbachốp triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng. Một hội nghị được coi là bước ngoặt trong lịch sử Liên Xô. Tại hội nghị đó, Goocbachốp đề ra chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, được gọi là “chiến lược gia tốc”. Từ đó cho đến lúc Liên Xô tan rã, công cuộc cải tổ và đổi mới ở Liên Xô đã diễn ra như thế nào thì chúng ta, những người Việt Nam và nhân loại đã thấy, và đã có không biết bao tranh cãi, bút mực đã đổ ra để lý giải về sự sụp đổ và tan rã của “đế quốc” hùng mạnh này. Có lẽ, tôi là nhà báo Việt Nam cuối cùng có mặt ở Liên Xô trong những giờ phút cuối cùng (1991) trước biến cố lịch sử này. May mắn hơn nữa cho tôi là được làm việc với các nhà báo Liên Xô trong Ban Việt ngữ của Đài phát thanh Đối ngoại Matxcơva, những người rất am tường thế cuộc và nói tiếng Việt rất trôi chảy. Được nhìn tận mắt, nghe tận tai – bằng tiếng Việt –, và được các bạn Nga lý giải những khúc mắc của mình về xã hội Xô Viết, tôi có thể nêu lên bốn nguyên nhân cơ bản về sự sụp đổ của Liên Xô: Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô áp đặt quyền lực tuyệt đối lên nhà nước, làm thay bộ máy nhà nước, khiến bộ máy Đảng rất cồng kềnh, già cỗi, kém hiệu quả. Nhóm cải cách Goocbachốp vừa không thoát khỏi cách làm cũ, vừa mắc sai lầm mới, không kiểm soát được xã hội. Hai là, hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế không động viên được sức lao động. Kế hoạch kinh tế cưỡng ép, chủ quan, đi ngược quy luật kinh tế. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, do ai cũng có quyền ra lệnh, can thiệp vào các hoạt động kinh tế và không ai chịu trách nhiệm về các kết quả kinh tế cuối cùng. Ba là, chính quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân. Các hoạt động văn hoá nghệ thuật trở thành nhạt nhẽo, nghèo nàn. Tâm hồn người Xô Viết khô héo! Một nguyên nữa phải nhắc đến là Liên Xô đã “sập bẫy” trong cuộc chạy đua trong chiến tranh lạnh với Mỹ và sa lầy trong cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm ở Afghanistan. Nếu ai còn nghi ngờ gì về sự sụp đổ của Liên Xô, thì xin đọc lại diễn văn từ chức dài 7 phút do Tổng thống Goocbachốp đọc trên Đài Truyền hình Liên Xô (mà Thông tấn xã Việt Nam trong bản tin mật đã đăng lại): “Tôi có thể làm Nga Hoàng 20 năm nữa, nhưng như thế là vô đạo đức nên tôi đã cải cách… Các bạn sẽ làm tiếp”. Sài Gòn, 20-12-2021 

 L.P.K.

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Đường lối của quốc tế xã hội chủ nghĩa đang ảnh hưởng tới những vấn đề toàn cầu[1]

Vũ Cao Đàm

 


Dẫn nhập

Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã từng xuất hiện các tổ chức gọi là “Quốc tế”

-    Quốc tế I, do Marx sáng lập năm 1864, tồn tại trong khoảng thời gian từ 1864-1878;

-  Quốc tế II, do Engels sáng lập, 1889-1914;

- Quốc tế III, do Lênin sáng lập năm 1919, Stalin giải thể năm 1943; chính Stalin đã tái lập năm 1947 và Khrouchev giải thể năm 1956;

- Quốc tế IV do Trosky sáng lập năm 1938, đến 1953 bị phân liệt nhanh chóng đi đến tan rã; 

- Quốc tế V với tên gọi Liên đoàn Quốc tế V, được kêu gọi thành lập năm 2003 ( thực chất là từ 1951 ) . Đến 2010 đã có nhiều hoạt động tại Áo, Séc, Đức, Pakistan, Thụy Điển, Sri Lanka, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Nhóm cộng sản New Zeland cũng tổ chức những đối thoại cho một quốc tế thứ năm[2];

- Cuối cùng, còn tồn tại hiện nay là Quốc tế xã hội chủ nghĩa với 120 chính đảng lao động và xã hội dân chủ, trong đó đã có 21 đảng tham gia chính phủ ở các mức độ khác nhau[3].

Quốc tế xã hội chủ nghĩa (Socialist International), được thành lập năm 1951 tại Franfurt (Cộng hòa Liên bang Đức), tiếp nhận đường lối của Quốc tế II, và cũng có thể xem là tổ chức hậu thân của Quốc tế II[4]. Theo Báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), đường lối của Quốc tế xã hội chủ nghĩa đã “cố gắng đáp ứng những vấn đề xã hội và những vấn đề toàn cầu”[5]. Đây là một nhận định khách quan trên cơ quan ngôn luận của Đảng CSVN. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định này.

Chúng tôi muốn viện dẫn một nội dung trong đường lối của Quốc tế xã hội chủ nghĩa: Phát triển bền vững. Chính sách này bắt nguồn từ những bế tắc trong tư duy phát triển của nhân loại. Chúng tôi cũng bắt đầu từ đây.

Những bế tắc trong tư duy phát triển của nhân loại

Những bế tắc này bắt nguồn từ một thông điệp cảnh báo rất nghiêm trọng trước thế giới vào năm 1972.

Đó là Nghị trình của Câu lạc bộ Rôm (Rome, tiếng Việt trước đây gọi là La Mã, thuộc nước Ý). Trong những cuộc thảo luận của Câu lạc bộ Rôm, Meadow đã trình bày một báo cáo gây chấn động dư luận về những bế tắc trong các chính sách phát triển. Báo cáo có tên là “Những giới hạn của sự phát triển” (Limits to growth), trong đó đưa ra dẫn liệu nhiều mặt của sự bế tắc, được xem là tư tưởng bi quan trong phát triển. Có thể tóm tắt như sau:

- Tài nguyên bị khai thác ngày càng cạn kiệt.

- Năng lực sinh lý của con người không thể điều khiển trước tốc độ ngày càng tăng cao của  máy móc

- Tất cả các chủng loại vật liệu hiện có không đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng trong sản xuất, chẳng hạn, vừa đáp ứng các tham số cơ học, nhiệt học, hóa học, quang học, v.v…, lại vừa đáp ứng các tham số sinh học, như kiểu mặt điện thoai thông minh, máy tính bảng và hàng loạt thiết bị được sử dụng trong nền sản xuất hiện đại.

- Đặc biệt, công nghiệp khai thác và chế biến tài nguyên ngày càng dẫn tới phá vỡ hệ sinh thái và tàn phá môi trường sống. Con người đang tự mình gây tổn thương cuộc sống của chính mình, thậm chí đến mức có thể nói, dường như nhân loại đang tự sát.

-   v.v…

Những nỗ lực giải thoát bế tắc trong tư duy phát triển

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

HỊCH TƯỚNG SĨ THẾ KỶ 21

(Sách văn học ko cần dầy, in bài này là đủ.)

Ta cùng các ngươi

Sinh ra phải thời bao cấp

Lớn lên gặp buổi thị trường.

Trông thấy:

Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng

Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước

Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người

Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.

Thật khác nào:

Đem cổ tích mà biến thành hiện thực

Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa

Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.

Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,

Học vị đã cao, học hàm không thấp

Ăn thì chọn cá nước, chim trời

Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến

Chức nhỏ thì ta… quy hoạch

Lương ít thì có lộc nhiều.

Đi bộ A tít, Cam ry

Hàng không Elai, Xi pic.

Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận

Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.

Lại còn đãi sỹ chiêu hiền

Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.

Lại còn chính sách khuyến khoa

Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

Thật là so với:

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa

 


( Trang web điện tử  của ĐCS Việt nam - Theo "Lịch sử thế giới hiện đại", NXb. Giáo dục)

Thứ Ba, 17/4/2018 10:38'(GMT+7)

 

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Socialist lnternational, viết tắt là SJ) là một tổ chức quốc tế tập hợp các Đảng Xã hội - dân chủ, các Đảng Xã hội chủ nghĩa và các Đảng Công nhân (hoặc Công đảng) đang hoạt động ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa và một số nước khác trên thế giới. 

Tổ chức này được thành lập tại Đại hội lần thứ nhất họp ở thành phố Phranphuốc trên sông Mainơ (CHLB Đức) từ ngày 30/6 đến 3/7/1951. Đến nay, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã tiến hành được 18 đại hội. Đại hội gần đây nhất là Đại hội lần thứ 18 tại Xtôckhôm (Thụy Điển) từ ngày 20 đến 22/6/1989. Cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc tế Xã hội chủ nghĩa là Bản tin xuất bản bằng tiếng Anh - ''Socialist Affairs'' (Những vấn đề Xã hội chủ nghĩa).

Quốc tế Xã hội chủ nghĩa là hiện thân của trào lưu xã hội - dân chủ hiện đại, tự mình khẳng định sẽ phấn đấu cho những giá trị truyền thống của mình và cố gắng đổi mới để đáp ứng những đòi hỏi của thời đại ngày nay.

Trong Đại hội thành lập của mình, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã ra bản tuyên bố có tính chất cương lĩnh với nhan đề ''Về mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội dân chủ'', trong đó định hình rõ khái niệm ''chủ nghĩa xã hội dân chủ''. Ở đây, các thành viên của Quốc tế Xã hội chủ nghĩa muốn thay thế khái niệm ''chủ nghĩa cải lương xã hội'' trước đó, và muốn đề cao vấn đề ''dân chủ'' trong mọi mặt của đời sống xã hội, mà trước hết là dân chủ về xã hội. Các đảng trong Quốc tế này dự định thực hiện ''bằng biện pháp dân chủ'' trong tất cả các lĩnh vực của đời sống để cải cách chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội.

Quốc tế xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển về số lượng vàtổ chức của mình. Năm 1976, Quốc tế có 66 đảng và các tổ chức thành viên. Đến năm 1986, số lượng các đảng và tổ chức thành viên là 82. Số lượng đảng viên của tất cả các đảng thuộc trào lưu xã hội - dân chủ năm 1972 gồm 14,4 triệu, năm 1983 là 20 triệu và năm 1986 là 16 triệu. Qua các cuộc bầu cử vào nghị viện, các Đảng Xã hội - dân chủ thu được số phiếu bầu đáng kể của cử tri, chứng tỏ khả năng nhất định về mặt vận động và thu hút quần chúng của họ: năm 1976, họ thu được 80 triệu cử tri; năm 1983, là 210 triệu và năm 1986 là 100 triệu cử tri.