Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

LẬT TẨY KẾ HOẠCH TIÊU DIỆT MỸ VÀ THẾ GIỚI CỦA TẬP CẬN BÌNH MÀ KHÔNG ĐỂ LẠI CHỨNG CỨ


Hoài Nam
By on Mar 30, 2020



Tuy Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng thứ tư trên thế giới nhưng núi non chiếm đến 33%. Vả lại, dân số quá đông nên việc sinh sống của dân Tàu trên 67% đất đai còn lại gặp nhiều trở ngại – Nạn nhân mãn, người đông đất thiếu.
Vốn đã khó khăn về địa dư lẫn dân số, lại còn có tính tham lam cố hữu, cộng với tham vọng chính trị của Tập Cận Bình và bộ sậu; bọn chúng càng hung hăng bất chấp hậu quả trong việc thống trị thế giới, chiếm các quốc gia láng giềng để dân Tàu sinh sống.
Thêm một nguyên nhân nữa. Suốt 24 năm đằng đẵng dưới thời 3 đời Tổng thống tiền nhiệm của Hoa Kỳ (8 năm của Bill Clinton, 8 năm của Bush, 8 năm của Barack Obama), các vị tổng thống này đã giúp cho TQ làm giàu, tạo phương tiện cho Tàu phát triển kinh tế lẫn chính trị đến đỉnh cao chót vót. Bằng chứng, dưới hai nhiệm kỳ 8 năm của Barack Obama, TQ đã xây dựng thành công các đảo nhân tạo ở biển Đông và thành lập các tiền đồn quân sự ở Hoàng Sa – Trường Sa. Do chính sách đối ngoại của Obama quá ư nhu nhược, hèn nhát nên Tập Cận Bình tự do bành trướng, tung hoành ngang dọc ở biển Đông đến lúc khó thể thụt lùi.
Vì vậy, hôm nay Hoa Kỳ muốn ngăn chặn Tập Cận Bình thì chỉ một giải pháp duy nhất; đó là khởi động chiến tranh! Nói cách khác, chính Barack Obama là thủ phạm gây ra chiến tranh giữa hai nước Hoa Kỳ và TQ, nếu có. Mà chắc hẳn sẽ phải có! Bởi chỉ một lý do: TT Trump không muốn Tập ôm trọn biển Đông. Ngược lại, Tập đã lỡ chi một số tiền quá khổng lồ để hoàn tất việc xây dựng nhiều đảo nhân tạo và thiết lập các tiền đồn quân sự ở Hoàng Sa – Trường Sa dưới thời Obama nên hắn ta không dễ dàng lui bước, bỏ cuộc. Tập đã ở trên lưng cọp, hắn buộc phải cỡi. Nghĩa là, chiến tranh TQ-Mỹ không thể không xảy ra!
Để chiếm ưu thế, Tàu Cộng đã sớm lên kế hoạch diệt Mỹ. Chỉ có phương pháp và thời gian là hai chọn lựa như thế nào cho tiện việc thi hành.
BIẾN BỆNH NHÂN BỊ NHIỄM VIRUS VŨ HÁN THÀNH VŨ KHÍ SINH HỌC TẤN CÔNG MỸ VÀ TÂY ÂU
Tập và bộ sậu dư biết: Dùng chiến tranh vũ khí đối với TT Trump thì Tập thua chắc. Còn chiến tranh thương mãi thì Tập đã bị TT Trump làm cho xiểng niểng thất bại, bó cờ rút chạy, thua lỗ cả chục ngàn tỷ rồi. Chỉ cách còn lại là Tập Cận Bình dùng vũ khí sinh học để diệt Hoa Kỳ và thế giới. Nhưng làm sao Tập Cận Bình thực hiện điều này mà Hoa Kỳ và thế giới không nghĩ đó là chiến tranh? Chiến lược thực thi kế hoạch của nhóm Tập Cận Bình là gì?
Xin giải đáp ngay: Đó là, Tập đã thí mạng dân Tàu để diệt Mỹ và thế giới trong dịp tết Nguyên Đán mà chẳng ai ngờ đến.

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2020

Địa mạch Việt Nam.


KTS TRẦN THANH VÂN
 
(Bài dài không cần động viên ai đọc nhưng đọc được thì rất đáng quý. Lưu về đây để tự nghiền ngẫm thêm)
Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!
Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài THTW đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”
– “Cái gì? 55 năm?”
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.
Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ.. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.
SỰ THẬT VÀ TRẢI NGHIỆM
Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề TQ mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” TQ hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.
Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.
KỶ NIỆM THỨ NHẤT: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT NĂM 1953
Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tág¡ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.
Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

CHIỀU ĐÔNG


(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ)
Bài của Trần Trung Đạo


Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.
Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.
Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.
Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp.
Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.
Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.
Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.
Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.
Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm.

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2020

THƠ: KHEN, CHÊ VÀ NỊNH


(Khúc vĩ thanh của thơ giáo viên dạy văn)



Hai bài thơ (một của họ Trần, một của họ Chu) ra đời trong hai thời điểm, hai sự kiện khác nhau: Thơ cô Trần ra đời trong sự kiện Formosa huỷ hoại môi trường biển; thơ cô Chu ra đời trong sự kiện cả thế giới đối mặt với đại nạn CoVid-19, sự kiện nào cũng là thảm hoạ của con người. Vì thế, hai bài thơ được xuất bản đều mang hơi thở của thể: THƠ CHÍNH LUẬN (phản ánh tình hình chính trị, xã hội qua xúc cảm). Độ nóng bỏng, nung chảy mạng xã hội của hai bài thơ dường như đều có tỉ số 1 - 1. Thật khủng khiếp! Song nó lại ở hai thái cực KHEN hết tầm - CHÊ tận độ. Vì sao vậy? Trước khi bạn đọc trả lời câu hỏi, tôi muốn cung cấp cho các bạn hiểu đôi chút về khái niệm thơ.
I. THƠ
1. Thơ là một thể loại của văn học (văn chương), một loại hình tinh thế, tinh hoa... được khởi phát từ rung động của trái tim, tâm hồn người. Rung động (xúc cảm) ấy được gợi ra từ sâu thẳm tiềm thức (nội tâm) khi va chạm mạnh với những hình ảnh khách quan (hiện thực đời sống) mà rung lên, phát ra thành tiếng (ngôn ngữ).
2. Ngôn ngữ thơ giống như viên ngọc, viên kim cương được người làm thơ mài sáng long lanh, qua cách lọc đãi như đãi cát tìm vàng. Thế nên, ngôn ngữ thơ thi vị, giàu cảm xúc, nhạc điệu và hình ảnh. Thơ hay rất kén người đọc, nó là món ăn tinh thần sang trọng, cao siêu, không phải ai cũng biết làm thơ, làm được thơ và biết thưởng thức thơ. Thơ hay phải xuất phát từ cảm xúc chân thành, từ rung động thật sự của tâm hồn mới có thể truyền rung cảm ấy cho người đọc. Người đọc, khi đọc cũng phải chìm cảm xúc của mình vào trạng thái, xúc cảm, giọng điệu của bài thơ thì mới nắm bắt được những cung bậc, bước sóng tình cảm của tác giả, mà từ đó cũng thấy tiếng tơ lòng mình cùng rung lên đồng điệu... Từ đó, tâm hồn mình mới nảy sinh ra những cảm xúc, trạng thái buồn, vui, yêu, ghét phẫn nộ... cùng tác giả.
II. KHEN - CHÊ VÀ THƠ NỊNH
1. Người đọc khen thơ cô Trần bởi cảm xúc được rung từ một trái tim đau đáu, trăn trở, khắc khoải, lo âu... trước hiện tình vô cùng khủng hoảng của đất nước. Nỗi niềm ấy không chỉ của một cá nhân mà nó tiêu biểu, đại diện cho bao trái tim yêu nước. Xúc cảm ấy được kết nối logic từ chiều sâu tiềm thức, quá khứ của dân tộc với hiện tại và tương lai, được rung lên bởi những hình ảnh khách quan va đập mạnh vào trái tim yêu thương... Tù đó được thốt lên, viết ra bằng chuỗi ngôn ngữ mộc mạc, chân thành. Chính bởi cái cảm xúc chân thành ấy mà nó đi vào lòng người, làm rung lên những cung bậc cảm xúc, trở thành tiếng nói đồng cảm, đồng điệu, đồng tình...
Bởi thế, bài thơ đã được độc giả đón nhận với thái độ yêu mến, ngợi ca, trân trọng, bảo vệ, nâng niu. Từ một tiếng nói riêng, nó trở thành tiếng nói chung của những người cần lao yêu chuộng hoà bình và công lí. Nó neo đậu mãi trong kí ức độc giả và đi cùng với thời gian, năm tháng...
2.Người đọc chê thơ cô Chu bởi cái cảm xúc được "rặn ra" từ trái tim ngây thơ, từ một tầm nhìn hạn chế của một người có "thẻ đỏ". Những người có "thẻ" là những người luôn tự hào vì họ có "tổ chức" và luôn cho rằng vị trí của họ cao hơn quần chúng.
Bởi vậy, Khi những người có "thẻ" mà làm thơ thì thơ của họ cũng bốc mùi "thẻ và tổ chức", khiên cưỡng, trói buộc, tù hãm trong cái nhìn một chiều. Họ không được tự do tư duy, không thể tư duy, nhất là tư duy trái chiều để truy tìm một sự thật, viết lên một sự thật. Cái tạng thơ của họ thường khuếch trương, tô vẽ, tâng bốc, xu nịnh nhau và xa dời thực tế đời sống.
Cảm xúc thơ của họ giả tạo, hào nhoáng, trơn bóng như sơn chống thấm. Nó không có độ gai góc, chất chồng những khổ đau, nhức nhối của thời cuộc... khiến người đọc thấy chán ghét, bất bình mà chê bai, phê phán. Nó đi ngược lại tiếng nói, tiếng lòng chân thành, vật vã khổ đau của người yêu nước thật sự. Nó chỉ nhằm nịnh bợ tổ chức, phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính trị, hay ít, dở nhiều. Nó được độc giả liệt vào hàng thơ XU THỜI, NỊNH THẾ, giả dối, sáo mòn. Làm thơ cốt để NỊNH TRÊN, trên tặng lại bằng khen cũng là để NỊNH DƯỚI - NỊNH NHAU. Trò cười cho thiên hạ.
III. BĂN KHOĂN
Cùng là hai cô giáo dạy văn, cùng sống trong một hoàn cảnh xã hội nhưng vì sao bài thơ: "Đất nước mình ngộ quá phải không anh?" của cô Trần được khen mà cô Trần lại không được đánh giá như một nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình? Ngược lại, bài thơ: "Đất nước ở trong tim" của cô Chu bị chê bầm dập mà cô Chu lại trở thành nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình - xã hội Việt Nam hiện đại?
Xin một đáp án từ bạn đọc!

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

CHUYỆN MỘT BÀI THƠ TÌNH Gửi em ở cuối sông Hồng BỊ ĐỤC BỎ 3 KHỔ THƠ


Đỗ Duy Ngọc






Lâu nay ta nghe bài hát Gởi em ở cuối sông Hồng ở đoạn cuối thấy ngô nghê và lạc lõng bởi những hình ảnh trong đoạn trên và khúc dưới trong ca từ không ăn nhập với nhau. Đi tìm bài thơ ta lại gặp ba dấu chấm như bỏ mất một đoạn. Đọc tờ báo Thể thao văn hoá thuật lại đoạn nhà thơ Dương Soái, tác giả bài thơ nói về hoàn cảnh ra đời bài thơ trong chương trình Giai điệu tự hào, ta cũng bắt gặp ba dấu chấm lửng đó.
Hoá ra bài thơ đã bị lưỡi kéo kiểm duyệt cắt bỏ mất một khúc, mà lại là đoạn thơ quan trọng, là cái hồn của cả bài thơ. Tuyên huấn không dám nhắc đến cuộc chiến tranh chống bọn xâm lược Trung quốc năm 1979 nên không cho phổ biến đoạn thơ này, khiến bài thơ mất đi tính chiến đấu vốn có của nó. Điều đó cho thấy lãnh đạo ta cố tránh né không muốn nhớ đến cuộc chiến đấu chống bọn xâm lược Bắc Kinh khởi đầu từ ngày 17.02.1979.
Nguyên văn bài thơ đã bị cắt xén và phổ biến lâu nay:
“Anh ở Lào Cai
Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Tháng Hai, mùa này con nước
Lắng phù sa in bóng đôi bờ
Biết em năm ngóng, tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt
Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong
Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông
Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét
Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết
Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?
Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…
Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy
Em ra sông chắc em sẽ thấy
Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông.
…
Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng
Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ
Là niềm thương anh gửi về em đó
Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.”
(Dương Soái)
-------------------------------------
Nguyên văn bài thơ chưa bị kiểm duyệt cắt bỏ
(Copy từ face Nguyễn Anh Tuấn)
Gửi em ở cuối sông Hồng
(Dương Soái)